Tư tưởng khai sáng, mở đường phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật
Văn hoá là một phạm trù rộng, đến nay trên thế giới có tới gần 200 định nghĩa về văn hóa, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau theo các cách hiểu phong phú, đa dạng. Có thể tiếp cận văn hóa theo hai nghĩa phổ biến sau: Theo nghĩa rộng, văn hoá là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra thông qua quá trình lao động và hoạt động thực tiễn.
Còn theo nghĩa hẹp, văn hoá là những hoạt động tinh thần, gồm có những lĩnh vực: tư tưởng, giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật, đạo đức (lối sống, cách cư xử, ứng xử giữa người với người...).
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc ta, không chỉ là người mở đường cho cách mạng Việt Nam mà còn đặt nền móng, hình thành đường lối, quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Ngay từ rất sớm, Người đã đưa ra một định nghĩa toàn diện, sâu sắc về văn hóa, coi văn hóa là tổng hòa các phương thức sinh hoạt và biểu hiện của con người nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định một cách hệ thống: Văn hóa bao gồm toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người từ ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng… Đó không chỉ là nhận thức mang tính lý luận, mà còn là sự định hình nền tảng cho đường lối văn hóa của Đảng.
Người viết: “Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Khái niệm văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra đã khái quát nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa, bao hàm các hoạt động vật chất và tinh thần của con người cùng với các giá trị mà con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời cũng là mục đích sống của loài người.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Cả cuộc đời Người phấn đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Mục tiêu đó - nhìn một cách tổng quát là quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Nhân dân.
Cống hiến của Người trong giải phóng và phát triển văn hóa Việt Nam còn thể hiện trong việc đưa ra những định hướng lớn để xây dựng nền văn hóa dân tộc. Đặc biệt, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý về vai trò to lớn của văn hóa đối với sự xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Chính từ đây, tư tưởng của Người đã khai sáng, dẫn lối soi đường cho sự phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng của Người, văn hóa vừa đóng vai trò dẫn dắt, là sức mạnh nội sinh và nền tảng tinh thần to lớn cho sự phát triển của dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng của Người khẳng định rõ: Văn hóa không đứng ngoài đời sống, mà thấm sâu vào mọi lĩnh vực, nâng cao dân trí, bồi đắp tinh thần dân tộc, tạo nên sức mạnh đoàn kết - yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta trong chặng đường 75 năm kể từ Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Văn hóa là những gì tinh hoa, tinh túy nhất, kết tinh thành các giá trị cao đẹp, nhân văn, tiến bộ. Đồng thời khẳng định, văn hóa làm nên hồn cốt dân tộc, “văn hóa còn thì dân tộc còn, mất văn hóa là mất dân tộc”.
Những chỉ đạo có ý nghĩa như lời hiệu triệu của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khơi dậy khát vọng chấn hưng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trực tiếp góp phần củng cố tiền đề lý luận của Đảng ta có những quyết sách chiến lược về văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới.
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta về văn hóa tiếp tục được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kế thừa và làm rõ, tạo tiền đề quan trọng trong định hình tư duy chiến lược của Đảng về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành văn hóa, đồng chí đã nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo quan trọng: “Văn hóa càng phải đi trước một bước, soi đường, dẫn dắt, bồi đắp bản lĩnh, củng cố niềm tin, hình thành năng lực mềm quốc gia”.
Với tinh thần hành động triệt để, quyết tâm cao độ và tầm nhìn chiến lược, đồng bộ với các lĩnh vực then chốt của đất nước, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, nhắc đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, lời dạy ấy đến hôm nay càng cho thấy văn hóa không chỉ đồng hành với phát triển, mà văn hóa phải đứng ở “vị trí dẫn đường”, là nền tảng định hình chất lượng con người và chất lượng quốc gia, là nền văn hóa hướng tới con người, là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, kết tinh trí tuệ Việt Nam và là động lực dẫn dắt sự phát triển dân tộc, độc lập, tự chủ, tự cường.

Đối với văn học, nghệ thuật là một lĩnh vực, khía cạnh rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống bằng hình tượng, bằng cảm thụ với nhiều cách nhìn, đánh giá, phân tích, theo nhiều thể loại.
Văn học là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ để sáng tác các tác phẩm như thơ, truyện, tiểu thuyết, kịch bản, nhằm phản ánh cuộc sống, thể hiện cảm xúc và truyền đạt thông điệp. Nghệ thuật được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm nhiều loại sáng tác như kiến trúc, âm nhạc, văn học, hội hoạ, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh…
Như vậy có thể hiểu rõ, văn hóa, văn học và nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau: Văn hóa là nền tảng, môi trường nuôi dưỡng và định hướng cho sự phát triển của văn học và nghệ thuật. Văn học và nghệ thuật là phương tiện thể hiện, phản ánh và làm phong phú thêm văn hóa. Sự phát triển của văn học và nghệ thuật góp phần nâng cao đời sống tinh thần, củng cố bản sắc văn hóa dân tộc.
Bước đột phá tư duy chiến lược của Đảng về văn hoá, văn học, nghệ thuật
Nhận thức sâu sắc được vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hoá trong sự phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, cho nên ngay từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phải phát triển văn hoá của dân tộc và năm 1943, khi nước nhà còn chưa giành được độc lập, Đảng ta đã đề ra “Đề cương văn hoá Việt Nam”, trong đó chỉ rõ “Mặt trận văn hoá là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hoá)”, và chủ trương phát triển văn hoá theo ba hướng: Dân tộc - Khoa học - Đại chúng.

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò của văn hoá và quan tâm đến công tác xây dựng văn hoá trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. Đảng ta xác định: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước.
Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam đến các nghị quyết quan trọng qua các kỳ Đại hội, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Cương lĩnh bổ sung, phát triển (năm 2011), các nghị quyết chuyên đề về văn hóa, văn học, nghệ thuật và gần đây là các mục tiêu, định hướng được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV là con đường nhất quán, kiên định và không ngừng đổi mới, sáng tạo tư duy lý luận của Đảng về phát triển văn hóa. Con đường đó khẳng định tư duy và nhận thức lý luận của Đảng về phát triển văn hóa ngày càng được hoàn thiện theo hướng toàn diện, hiện đại và hội nhập.
Trong tiến trình phát triển đất nước, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) – dấu mốc mở ra công cuộc đổi mới toàn diện – văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện rõ vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển bền vững. Về văn hóa, công tác bảo tồn, phát huy bản sắc và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả nổi bật.
Đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới, đồng bộ với Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã tổng kết thực tiễn, kế thừa và phát triển tư duy lý luận của Đảng, đề ra hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh mềm quốc gia.
Về văn học, nghệ thuật, dưới sự định hướng của Đảng, Nhà nước đã đa dạng các chủ đề, thể loại và chiều sâu tư tưởng. Văn học Việt Nam từ sau đổi mới đã có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về tư duy nghệ thuật lẫn phương thức biểu đạt. Thay vì tập trung vào đề tài cách mạng và kháng chiến như trước đây, văn học giai đoạn này mở rộng biên độ phản ánh, đi sâu vào thân phận con người, những biến động xã hội, nỗi đau chiến tranh, và quá trình chuyển mình của đất nước. Từ năm 2010 đến nay, văn học mạng và văn học trẻ cũng phát triển mạnh mẽ với những tác giả như Anh Khang, Nguyễn Nhật Ánh, Phan An… tuy còn nhiều tranh luận, nhưng góp phần đưa văn học gần hơn với độc giả đại chúng.
Các loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, cải lương, múa rối nước,.. tiếp tục được bảo tồn và đưa vào sân khấu hiện đại qua các chương trình như: Liên hoan nghệ thuật truyền thống toàn quốc tổ chức định kỳ. Festival Huế, Liên hoan Đờn ca tài tử Nam Bộ, … góp phần tôn vinh và làm sống lại giá trị văn hóa vùng miền. Bên cạnh đó, điện ảnh Việt Nam, lĩnh vực âm nhạc, đạo diễn, nghệ sĩ Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên các sân khấu khu vực và thế giới.
Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam có hơn 4.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, hơn 3.000 lễ hội dân gian truyền thống được phục dựng và bảo tồn. Đặc biệt, Việt Nam hiện rất nhiều di sản văn hóa được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới, trong đó có: Quần thể di tích Cố đô Huế (1993); Phố cổ Hội An (1999); Khu di tích Mỹ Sơn (1999); Nhã nhạc cung đình Huế (2003) – được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt (2016); Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh (2014). Bên cạnh đó còn tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống, văn hóa tinh thần của đa dạng 54 dân tộc, trang phục, ẩm thực, ngôn ngữ, con người Việt Nam… trở thành tổng hòa trong sự đa dạng, phong phú của văn hóa Việt Nam.

Có thể khẳng định, những thành tựu trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới gần đây, nhận thức về văn hoá ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn, Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy của Đảng, đặt văn hóa vào trung tâm sức mạnh tổng hợp, hướng tới chuyển hóa giá trị thành sức mạnh mềm quốc gia một cách thực chất, hiệu quả và bền vững. Trong đó, việc tiếp tục đầu tư, đổi mới tư duy sáng tạo và bảo tồn giá trị truyền thống sẽ là chìa khóa để phát huy sức mạnh “mềm” của văn hóa như một động lực nội sinh cho phát triển bền vững đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 80-NQ/TW khẳng định một bước phát triển quan trọng về tư duy chiến lược: Văn hóa không chỉ là “nền tảng”, mà còn là “trụ cột” phát triển, cùng với chính trị, kinh tế, xã hội cấu thành hệ thống trụ đỡ bền chắc của quốc gia. Văn hóa chính là “hệ điều tiết”, thấm sâu vào mọi nền tảng tinh thần, động lực nội sinh quyết định sự hưng thịnh của đất nước.
Bình luận bài viết