Tiền rẻ trên liên ngân hàng, vì sao vốn vẫn đắt?
Số liệu của ngành chức năng công bố, ngày 8/10/2026, lãi suất tiền đồng qua đêm trên thị trường liên ngân hàng giảm xuống 0,99%/năm. Đây là tín hiệu tích cực, phản ánh áp lực thanh toán tức thời giữa các tổ chức tín dụng đã dịu bớt. Tuy nhiên, sự hạ nhiệt của thị trường tiền tệ ngắn hạn chưa đồng nghĩa với việc chi phí vay vốn của nền kinh tế sẽ giảm tương ứng.

Ảnh minh họa. Nguồn: Trọng Triết
Thực tế, mặt bằng lãi suất cơ sở tại một số ngân hàng vẫn ở mức cao. Ví như Techcombank công bố lãi suất cơ sở áp dụng từ ngày 15/9 ở mức 9%/năm đối với các khoản vay bất động sản, tiêu dùng có tài sản bảo đảm và vay mua ô tô; khoản vay tiêu dùng tín chấp ở mức 13%/năm. Tại VPBank, lãi suất cơ sở đối với một số khoản vay cá nhân có tài sản thế chấp dao động từ 11,3 - 13,8%/năm, tùy sản phẩm và chu kỳ điều chỉnh. Trong khi đó, ACB nâng lãi suất cơ sở áp dụng cho các khoản vay có kỳ hạn lên 9,5%/năm trong tháng 10, tăng 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước.
Những con số này cho thấy một thực tế giá vốn trên thị trường liên ngân hàng và giá vốn cho khách hàng cuối cùng vận động theo những cơ chế khác nhau.
Lãi suất qua đêm chủ yếu phản ánh nhu cầu cân đối thanh khoản tức thời. Trong khi đó, lãi suất cho vay còn phụ thuộc vào chi phí huy động vốn, kỳ hạn nguồn tiền, dự phòng rủi ro tín dụng, chi phí vận hành và biên lợi nhuận của ngân hàng. Đặc biệt, tiền gửi lãi suất cao được huy động trước đó vẫn nằm trong cơ cấu vốn cho đến khi đáo hạn hoặc được thay thế bằng nguồn vốn có chi phí thấp hơn.
Vì vậy, bơm thêm thanh khoản ngắn hạn có thể giúp giảm áp lực tức thời, nhưng không thể tự động kéo giảm chi phí vốn trung và dài hạn. Nếu không xử lý sự lệch pha về kỳ hạn, cơ cấu nguồn vốn và khả năng luân chuyển tiền trong nền kinh tế, khoảng cách giữa lãi suất liên ngân hàng và lãi suất cho vay sẽ còn tồn tại.
Khơi thông dòng tiền, giảm áp lực huy động: Muốn mặt bằng lãi suất cho vay hạ nhiệt trong quý IV, giải pháp trước tiên là cải thiện dòng tiền thực trong nền kinh tế, thay vì chỉ tập trung vào các chỉ báo thanh khoản ngắn hạn.
Số liệu được cơ quan chức năng công bố, giải ngân vốn đầu tư công trong 9 tháng đầu năm mới đạt 64,8% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Đẩy nhanh các dự án đủ điều kiện giải ngân trong những tháng còn lại không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn đưa tiền đến các nhà thầu, doanh nghiệp cung ứng vật liệu, người lao động và các lĩnh vực dịch vụ liên quan. Khi dòng tiền được luân chuyển, năng lực thanh toán và tiền gửi của doanh nghiệp, người dân có thể được cải thiện, góp phần giảm sức ép huy động vốn của các ngân hàng.
Song song đó, cần quyết liệt tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản đủ điều kiện triển khai, xử lý các khoản phải thu và khơi thông nguồn vốn đang bị mắc kẹt. Tuy nhiên, giải phóng nguồn lực không đồng nghĩa với việc bơm tín dụng bằng mọi giá. Dòng tiền phải đi vào những dự án có khả năng hoàn thành, tạo sản phẩm, tạo việc làm và phát sinh dòng tiền thực.
Về phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), điều hành thanh khoản cần linh hoạt, bám sát diễn biến lạm phát, tỷ giá và nhu cầu vốn theo mùa vụ cuối năm. Các công cụ thị trường mở, tái cấp vốn và điều tiết dự trữ cần được sử dụng đúng thời điểm, đúng đối tượng, nhằm giảm biến động lãi suất ngắn hạn mà không tạo áp lực mất cân đối vĩ mô.
Đề xuất cho phép các tổ chức tín dụng sử dụng một phần vốn liên ngân hàng để tài trợ khách hàng cũng cần được xem xét thận trọng. Nguồn vốn ngắn hạn không thể trở thành nền tảng cho vay dài hạn thiếu kiểm soát, bởi rủi ro kỳ hạn có thể quay trở lại dưới hình thức lớn hơn. Mục tiêu không phải làm cho tiền rẻ bằng mọi cách, mà là giúp hệ thống ngân hàng có đủ nguồn vốn phù hợp để cung ứng tín dụng với chi phí hợp lý.
Ngân hàng phải chia sẻ, tín dụng phải đúng địa chỉ
Chính sách tiền tệ chỉ tạo điều kiện; mức giảm lãi suất đến được với người vay hay không còn phụ thuộc vào quyết định của từng ngân hàng thương mại.
Trong bối cảnh nền kinh tế cần thêm động lực phục hồi và mở rộng sản xuất, các ngân hàng cần rà soát chi phí vận hành, đẩy mạnh số hóa quy trình, tiết giảm chi phí huy động và chủ động thu hẹp biên lợi nhuận ở những phân khúc có mức độ rủi ro phù hợp. Lợi nhuận và an toàn hệ thống vẫn là yêu cầu chính đáng, nhưng không thể chỉ chuyển toàn bộ áp lực chi phí sang khách hàng khi doanh nghiệp đang cần vốn để duy trì sản xuất, trả lương và thực hiện đơn hàng.
Một vấn đề khác cần được giám sát là cách xác định lãi suất cho vay sau thời gian ưu đãi. Người vay cần được thông tin minh bạch về lãi suất tham chiếu, biên độ cộng thêm, chu kỳ điều chỉnh và các khoản phí liên quan. Cơ quan quản lý cần theo dõi cả lãi suất thực trả lẫn mức độ truyền dẫn từ chi phí huy động sang lãi suất cho vay, tránh tình trạng lãi suất đầu vào hạ nhưng khách hàng không được hưởng lợi tương xứng.
Đồng thời, thẩm định tín dụng cần chuyển dần từ cách tiếp cận quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp sang đánh giá toàn diện dòng tiền, hợp đồng, lịch sử thanh toán và triển vọng kinh doanh. Cách làm này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ và các mô hình đổi mới sáng tạo vốn có ít tài sản hữu hình nhưng có thể sở hữu thị trường, dữ liệu và năng lực tạo doanh thu.
Về phân bổ tín dụng, cần ưu tiên các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và nhà ở xã hội, đồng thời kiểm soát dòng vốn vào hoạt động đầu cơ có mức độ rủi ro cao. Không nên để doanh nghiệp nhỏ và vừa phải cạnh tranh bất lợi với các dự án quy mô lớn chỉ vì khác biệt về tài sản bảo đảm.
Xa hơn, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu và các kênh vốn dài hạn sẽ giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Khi doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động vốn, áp lực dồn lên hệ thống ngân hàng sẽ giảm, tạo điều kiện để lãi suất cho vay ổn định hơn.
Cuối năm giảm đúng chi phí, không chạy theo con số
Trong những tháng cuối năm, nhu cầu vốn thường tăng khi doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, hoàn thành đơn hàng và chuẩn bị kế hoạch kinh doanh mới. Đây cũng là thời điểm các ngân hàng phải cân đối thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng nhưng vẫn bảo đảm an toàn nguồn vốn.
Bởi vậy, kéo giảm lãi suất cho vay không thể chỉ dựa vào một quyết định điều hành đơn lẻ. Cần sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ, tiến độ giải ngân đầu tư công, tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý, cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng và phát triển thị trường vốn.
Thước đo thành công không phải là lãi suất liên ngân hàng giảm bao nhiêu, cũng không đơn thuần là số chương trình tín dụng ưu đãi được công bố. Điều người dân và doanh nghiệp cần là khoản vay mới có chi phí thấp hơn, khoản vay hiện hữu được điều chỉnh minh bạch, và vốn thực sự đến được những hoạt động tạo ra giá trị.
Nếu dòng tiền được khơi thông, chi phí trung gian được cắt giảm và rủi ro được định giá đúng, lãi suất cho vay mới có cơ sở giảm bền vững. Ngược lại, nếu chỉ tìm cách làm rẻ tiền trong ngắn hạn mà không giải quyết được bài toán kỳ hạn và hiệu quả phân bổ vốn, áp lực lãi suất sẽ sớm quay trở lại.
GS,TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh nêu 5 giải pháp kéo giảm lãi suất cho vay, gồm: Cần thay đổi cấu trúc cung ứng vốn, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn phù hợp với từng giai đoạn phát triển; đồng thời xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung có kiểm soát để nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng.
Phát triển cấu trúc vốn nhiều tầng, kết nối vốn nghiên cứu và phát triển, vốn mạo hiểm, tín dụng đổi mới sáng tạo và thị trường vốn. Việc đánh giá doanh nghiệp cần tính đến dòng tiền, hợp đồng, dữ liệu và tài sản trí tuệ, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp hữu hình.
Về góc độ điều hành chính sách: Linh hoạt bơm thanh khoản qua các công cụ tiền tệ, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và tháo gỡ các dự án đủ điều kiện triển khai để cải thiện vòng quay tiền trong nền kinh tế, qua đó giảm sức ép huy động vốn của ngân hàng.
Về góc độ ngân hàng thương mại: Chủ động tiết giảm chi phí vận hành, rà soát biên lợi nhuận, minh bạch cơ chế điều chỉnh lãi suất sau ưu đãi và tăng cường đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền thực tế.
Với góc độ cơ cấu thị trường vốn: Ưu tiên tín dụng cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng; đồng thời phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu và các kênh huy động vốn dài hạn để giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng./.
Bình luận bài viết