Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam thành Nghị quyết 28 của Quốc hội chính là "chìa khóa" mở đường để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia. Đây là yêu cầu tất yếu trong quá trình đổi mới tư duy phát triển, cũng là nhiệm vụ chính trị - lập pháp quan trọng của Quốc hội nhằm cụ thể hóa, khẩn trương đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Nhiệm vụ này càng nổi bật bởi đất nước đang đứng trước yêu cầu xây dựng một hệ giá trị mới phù hợp với kỷ nguyên phát triển. Kinh tế có thể tạo ra của cải vật chất, khoa học - công nghệ làm tăng năng suất lao động, hạ tầng mở rộng không gian phát triển, nhưng văn hóa mới là yếu tố quyết định chiều sâu, bản lĩnh và sức bền của quốc gia, dân tộc.
Một đất nước muốn đi xa không thể chỉ mạnh về vốn, công nghệ, hạ tầng hay thị trường, mà phải có con người giàu nhân cách, xã hội có chuẩn mực, cộng đồng có bản sắc và quốc gia có sức hấp dẫn văn hóa.

Bên cạnh những thành tựu quan trọng, đời sống văn hóa vẫn còn có biểu hiện lệch chuẩn, giải trí vụn vặt, thiếu chiều sâu, thậm chí có lúc xa rời chân - thiện - mỹ. Mặt khác, xuất hiện ngày càng nhiều những sản phẩm chạy theo xu hướng nhất thời, thiếu tính nhân văn của nghệ thuật; hoạt động văn học nghệ thuật có phần chững lại, vắng bóng những tác phẩm nghệ thuật cao, có năng lực hiệu triệu, sức lay động…
Đặc biệt, trong một bối cảnh xã hội hiện đại nhiều biến động, mạng xã hội mở rộng, nền tảng số xuyên biên giới phát triển nhanh, công nghiệp giải trí thay đổi mạnh mẽ, thị hiếu công chúng phân hóa khiến các giá trị truyền thống chịu sức ép cạnh tranh rất lớn.
Trong bài phát biểu tại buổi gặp mặt đội ngũ văn nghệ sĩ ngày 30/12/2024, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, đồng thời nhấn mạnh văn hóa, nghệ thuật không thể đứng ngoài kinh tế và chính trị.
Điều đó cho thấy, từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đến Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị và được thể chế hóa bằng Nghị quyết số 28 của Quốc hội là sự tiếp nối nhất quán “mạch nguồn” của Đảng, Nhà nước về vai trò dẫn đường, điều tiết và nâng cao chất lượng phát triển và luôn coi văn hóa là một mặt trận, sức mạnh tinh thần, phương thức tập hợp và nâng đỡ con người.
Các nghị quyết trong giai đoạn mới là “hồi trống” thúc giục đổi mới trong tư duy, xây dựng thể chế, phương thức đầu tư và phương cách đưa văn hóa trở nên đại chúng, gần gũi hơn với nhân dân.
Nói cách khác, chiến lược phát triển hiện nay không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu phải cụ thể hóa bằng cơ chế, chính sách và khung pháp lý để văn hóa được nâng đỡ và bảo vệ. Từ đó, trong kỷ nguyên mới, tư duy phát triển văn hóa cần chuyển từ việc chỉ khẳng định, nhấn mạnh vai trò của văn hóa sang kiến tạo hành lang pháp lý và các điều kiện thực tiễn để văn hóa phát triển bền vững.
Nếu Nghị quyết 80 là những định hướng chính trị chiến lược trong phát triển văn hóa thì Nghị quyết của Quốc hội tập trung trực diện để giải quyết các điểm nghẽn. Trong đó, điểm nghẽn thứ nhất là nguồn lực. Lâu nay, đầu tư cho văn hóa thường thấp, phân tán, nhiều nơi còn coi văn hóa là lĩnh vực có thể cắt giảm khi ngân sách khó khăn.
Nghị quyết đã đưa ra yêu cầu bảo đảm nguồn lực tương xứng, trong đó có chỉ tiêu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Đây là gợi mở rất quan trọng, bởi muốn văn hóa trở thành động lực phát triển thì trước hết phải được bảo đảm bằng nguồn lực thực chất, ổn định và có khả năng dẫn dắt xã hội.
Điểm nghẽn thứ hai là thể chế, thủ tục, quy hoạch, đất đai và mô hình vận hành. Nhiều địa phương muốn xây dựng không gian sáng tạo, trung tâm biểu diễn, bảo tàng, nhà hát, công viên văn hóa với kiến trúc đặc trưng, sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc nhưng lại vướng quy hoạch, đất đai, cơ chế tài chính và mô hình quản trị.
Nghị quyết 28 đã xóa bỏ các rào cản đang kìm hãm nguồn lực xã hội đầu tư vào văn hóa, mở đường cho các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa; đồng thời có chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh, ưu đãi thuế đối với tổ chức, cá nhân đầu tư vào hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao và một số ngành công nghiệp văn hóa trọng tâm như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, trò chơi điện tử có nội dung giáo dục, quảng bá giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam.
Điểm nghẽn thứ ba là làm sao để văn hóa đi vào cộng đồng. Muốn văn hóa sống được trong đời sống nhân dân, cần một hệ thống thiết chế thực sự hoạt động sinh động.
Thiết chế văn hóa ở đây không chỉ là nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, rạp hát, trung tâm triển lãm, quảng trường, sân khấu, không gian sáng tạo, mà còn là trường học, khu dân cư, nền tảng số, câu lạc bộ cộng đồng, trung tâm học tập suốt đời, nơi người dân có thể gặp gỡ, học hỏi, sáng tạo, biểu diễn, thưởng thức và chia sẻ giá trị văn hóa.
Nhà văn hóa hoành tráng chỉ để hội họp thì không phải là thiết chế sống. Bảo tàng mở cửa đón du khách đến tham quan nhưng không có hoạt động giáo dục, thiếu trải nghiệm, tương tác thì chưa thể đi vào đời sống cộng đồng. Nhà hát sáng đèn nhưng chương trình xa rời công chúng, sân khấu không có những “thanh âm vượt tầng”, vắng bóng tác phẩm lớn “vượt thời đại”, giá vé “trên trời” thì chưa thể trở thành không gian nuôi dưỡng tâm hồn xã hội.
Vì vậy, Nghị quyết 28 của Quốc hội đặt ra yêu cầu rất cụ thể như: Giao Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giao tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở. Đây là bước chuyển trọng tâm từ có công trình sang công trình phải hoạt động, trở thành nơi nuôi dưỡng đời sống tinh thần, kết nối cộng đồng và bồi đắp bản sắc ngay từ cơ sở.
Bởi văn hóa, nghệ thuật đi vào cộng đồng không phải bằng việc xây thật nhiều nhà văn hóa, mà bằng cách làm cho các thiết chế ấy trở thành điểm hẹn sinh hoạt tinh thần, nơi người dân được tham gia, sáng tạo và đối thoại chứ không chỉ để tiếp nhận một chiều.
Để làm được điều đó, mỗi thiết chế văn hóa phải có chương trình hoạt động thường xuyên, phù hợp với từng nhóm đối tượng trong cộng đồng: Trẻ em, thanh niên, người cao tuổi, công nhân, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật...
Mặt khác, từ góc nhìn của doanh nghiệp, các nhà đầu tư - những người kỳ vọng vào sự khởi sắc của nền công nghiệp văn hóa mới, họ đang chờ đợi đầu tư vào văn hóa được bảo đảm bằng những chính sách gì và được hỗ trợ bằng những động lực cụ thể nào?

Do đó, Nghị quyết không chỉ kêu gọi doanh nghiệp yêu văn hóa, mà xác lập doanh nghiệp, doanh nhân là một chủ thể quan trọng trong phát triển văn hóa. Các chính sách về ưu đãi đất đai, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, ưu tiên công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến, sản xuất nội dung số, phát triển sản phẩm dịch vụ văn hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số là những quy định trong chính sách rất rõ ràng.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các lĩnh vực như: Điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, hội họa, kiến trúc, thiết kế thời trang, du lịch văn hóa, truyền thông sáng tạo và các sản phẩm văn hóa số...
Văn hóa cần thị trường để có sức sống và làm mới mình, nhưng không thể bị thị trường hóa cực đoan. Thiết chế văn hóa cần nguồn lực xã hội, nhưng không thể biến tài sản công, di sản, ký ức cộng đồng thành công cụ khai thác ngắn hạn.
Vì vậy, bên cạnh ưu đãi phải là tiêu chí minh bạch, hậu kiểm chặt chẽ, cam kết phục vụ cộng đồng, bảo vệ bản sắc và đo lường hiệu quả xã hội. Một dự án văn hóa tốt không chỉ tạo doanh thu, mà còn tạo công chúng, tạo thói quen văn hóa, tạo cơ hội cho nghệ sĩ, tạo sinh kế cho cộng đồng và làm giàu hình ảnh quốc gia.
Ở tầm nhìn dài hơn, rộng hơn, sâu hơn, đột phá hơn, mọi thiết chế, cơ chế, chính sách cuối cùng đều phải hướng đến con người. Các văn nghệ sĩ cần bám sát nhịp sống nhân dân, đi vào những vấn đề mới mang hơi thở cuộc sống, để vốn sống của người nghệ sĩ đập cùng nhịp đập của xã hội, đời sống dân sinh.
Tinh thần ấy cũng là để văn hóa và các thiết chế đi cùng trong giai đoạn mới, không xa cách đời sống xã hội, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, được nuôi dưỡng từ chính cộng đồng, luôn ở trong nhân dân, linh hoạt, mở cửa, hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa nhân loại, gần gũi, hấp dẫn, nhân văn, có khả năng nuôi dưỡng tâm hồn và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Bình luận bài viết