Thay vì “che” nợ xấu bằng tăng trưởng tín dụng nóng, nhiều ngân hàng đang chấp nhận giảm lợi nhuận, tăng mạnh trích lập dự phòng, chủ động làm sạch bảng cân đối và đẩy nhanh thu hồi nợ. Đằng sau cuộc đua gia cố “bộ đệm” tài chính là bài toán lớn hơn làm sao xử lý nợ xấu tận gốc để phục hồi tăng trưởng.
Nợ xấu tăng nhanh tín hiệu đáng lo của hệ thống
Bức tranh tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng nợ xấu nhóm 3-5 đã lên tới khoảng 292.159 tỷ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2025, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Trong khi đó, tăng trưởng cho vay khách hàng chỉ khoảng 3,6%.
Điều đáng lo hơn nằm ở cơ cấu nợ xấu. Nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn - đạt khoảng 168.543 tỷ đồng, chiếm tới 57,7% tổng nợ xấu toàn hệ thống khảo sát. Đây là nhóm nợ khó thu hồi nhất, đòi hỏi ngân hàng phải trích lập dự phòng rất lớn.
Có ngân hàng ghi nhận tới 95% tổng nợ xấu nằm ở nhóm có khả năng mất vốn. Điều đó đồng nghĩa phần lớn khoản vay đã đi qua giai đoạn “có thể cứu chữa”, chuyển sang trạng thái xử lý pháp lý và phát mại tài sản bảo đảm.
Áp lực này đang trực tiếp “bào mòn” lợi nhuận ngành ngân hàng. Nhiều chuyên gia cho rằng giai đoạn 2026-2027 có thể là chu kỳ tái cấu trúc chất lượng tài sản mạnh nhất kể từ sau giai đoạn xử lý nợ xấu hậu khủng hoảng 2011-2013.
Gia tăng dự phòng “hy sinh” lợi nhuận để đổi lấy an toàn hệ thống
Trong bối cảnh rủi ro tín dụng tăng lên, xu hướng nổi bật nhất hiện nay là các ngân hàng chủ động tăng mạnh chi phí dự phòng. Tổng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của 27 ngân hàng niêm yết đã lên tới hơn 233.095 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm.
Ngân hàng Sacombank là ngân hàng tăng dự phòng mạnh nhất khi chi phí dự phòng tăng tới 109%. Còn ngân hàng OCB tăng gần 67%; HDBank tăng gần 39%; MB tăng hơn 33%. Eximbank cũng là trường hợp điển hình cho xu hướng “lấy an toàn đổi tăng trưởng”. Dù tín dụng vẫn tăng, ngân hàng này chấp nhận lợi nhuận quý I/2026 giảm mạnh khi tăng dự phòng tín dụng lên gần 319 tỷ đồng, gấp hơn 2,5 lần cùng kỳ.
Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng hiện không còn đặt ưu tiên tuyệt đối vào tăng trưởng lợi nhuận ngắn hạn, mà chuyển sang chiến lược củng cố “bộ đệm” chống sốc.
Một lãnh đạo ngân hàng thương mại cổ phần chia sẻ rằng điều nguy hiểm nhất không phải lợi nhuận giảm vài quý, mà là khi nền kinh tế xuất hiện “cú sốc” lớn nhưng ngân hàng không còn đủ nguồn lực dự phòng để hấp thụ rủi ro. Đó cũng là lý do tỷ lệ bao phủ nợ xấu đang trở thành chỉ tiêu được giới đầu tư quan tâm nhiều hơn lợi nhuận.
Hiện ngân hàng Vietcombank vẫn dẫn đầu hệ thống với tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên tới 253,4%; VietinBank đạt 167,2%. Techcombank, ACB và ABBank cũng nằm trong nhóm có “bộ đệm” cao nhất hệ thống. Tỷ lệ bao phủ càng lớn, khả năng chống chịu trước rủi ro càng cao.

Nợ xấu tăng lên buộc các ngân hàng tăng mạnh trích lập dự phòng để đảm bảo an toàn.
Cuộc chiến xử lý nợ xấu không còn là chuyện riêng của ngân hàng
Điểm đáng chú ý là làn sóng nợ xấu hiện nay không hoàn toàn xuất phát từ yếu tố nội tại ngân hàng. Khó khăn của doanh nghiệp đang lan ngược vào hệ thống tín dụng
Xuất khẩu giảm tốc ở nhiều ngành, chi phí vốn tăng, thị trường bất động sản phục hồi chậm, sức mua suy yếu và áp lực dòng tiền kéo dài khiến nhiều doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ đúng hạn
Lãnh đạo ngân hàng Sacombank cho biết nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu tác động mạnh từ biến động thương mại quốc tế và suy giảm đơn hàng xuất khẩu nên phát sinh nợ quá hạn khá lớn trong năm 2025.
Ở góc độ khác, nợ xấu hiện nay phản ánh “sức khỏe thật” của nền kinh tế. Nếu doanh nghiệp không hồi phục thực chất, nợ xấu sẽ còn tiếp tục tăng. Đó là lý do nhiều ngân hàng hiện chuyển hướng sang quản trị tín dụng thận trọng hơn thay vì mở rộng dư nợ bằng mọi giá.
Dù nhiều ngân hàng đẩy mạnh thu hồi nợ, tiến độ xử lý thực tế vẫn khá chậm do hàng loạt vướng mắc pháp lý. Sau khi Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu hết hiệu lực, nhiều ngân hàng cho rằng quá trình thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm đang gặp khó hơn trước. Không ít khoản nợ có tài sản bảo đảm đủ giá trị nhưng mất nhiều năm vẫn chưa xử lý xong do tranh chấp pháp lý, quy trình thi hành án kéo dài hoặc thị trường bất động sản thanh khoản yếu.
Theo PGS,TS. Nguyễn Anh Phong, Đại học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh nhận định: “Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc ngân hàng thiếu nguồn lực xử lý nợ xấu, mà là thiếu cơ chế pháp lý đủ mạnh để rút ngắn thời gian thu hồi tài sản”.
Thực tế, nhiều ngân hàng đang phải “giam vốn” trong các khoản nợ tồn đọng kéo dài, làm giảm khả năng quay vòng tín dụng cho nền kinh tế.
PGS,TS. Nguyễn Anh Phong chia sẻ kinh nghiệm quốc tế xử lý nợ xấu tại Hàn Quốc đã thành lập “siêu công ty” mua bán nợ. Sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997, Hàn Quốc đã trao quyền rất lớn cho Công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) để mua bán và xử lý nợ xấu.
KAMCO được phép mua nợ theo giá thị trường, tái cấu trúc doanh nghiệp, bán tài sản bảo đảm và đấu giá công khai quy mô lớn. Chỉ trong vài năm, Hàn Quốc đã xử lý hàng chục tỷ USD nợ xấu và tái khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế. Bài học lớn nhất là phải có một thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp và cơ chế pháp lý đủ mạnh để xử lý nhanh tài sản bảo đảm.
Còn ở Trung Quốc tách nợ xấu khỏi ngân hàng càng sớm càng tốt. Trung Quốc từng thành lập 4 công ty quản lý tài sản quốc doanh để tiếp nhận nợ xấu từ các ngân hàng lớn.
Thay vì để ngân hàng “ôm” nợ kéo dài, các khoản nợ được chuyển sang tổ chức chuyên xử lý, giúp hệ thống ngân hàng nhanh chóng làm sạch bảng cân đối và phục hồi tăng trưởng tín dụng. Điểm đáng chú ý là Trung Quốc chấp nhận hy sinh một phần nguồn lực ngân sách để đổi lấy ổn định tài chính dài hạn.
Hay ở Malaysia xử lý nợ xấu gắn với tái cấu trúc doanh nghiệp. Sau khủng hoảng 1997, Malaysia thành lập Danaharta - tổ chức mua bán nợ xấu quốc gia.
Điểm khác biệt là Danaharta không chỉ thu hồi nợ mà còn tham gia tái cấu trúc doanh nghiệp vay vốn, giúp doanh nghiệp phục hồi hoạt động để tạo dòng tiền trả nợ. Cách làm này giúp tỷ lệ thu hồi nợ của Malaysia thuộc nhóm cao nhất châu Á thời kỳ hậu khủng hoảng.
Còn tại Mỹ minh bạch hóa tài sản và bán nợ theo cơ chế thị trường. Sau khủng hoảng tài chính 2008, Mỹ đẩy mạnh chứng khoán hóa tài sản và bán nợ xấu cho các quỹ đầu tư theo cơ chế thị trường minh bạch.
Điều quan trọng là giá tài sản được thị trường xác lập nhanh, tránh tình trạng “neo giá” khiến quá trình xử lý kéo dài. Đây là bài học rất đáng tham khảo với thị trường mua bán nợ tại Việt Nam hiện nay.
Theo GS,TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, xử lý nợ xấu giai đoạn mới cần cách tiếp cận toàn diện hơn thay vì chỉ phụ thuộc vào trích lập dự phòng.
Thứ nhất, sớm luật hóa cơ chế xử lý nợ xấu theo tinh thần Nghị quyết 42. Nhiều ngân hàng kiến nghị cần xây dựng luật xử lý nợ xấu riêng, cho phép thu giữ tài sản bảo đảm minh bạch, nhanh chóng và giảm thời gian tố tụng. Nếu không có cơ chế pháp lý đủ mạnh, nợ xấu sẽ tiếp tục “kẹt” trong hệ thống nhiều năm.
Thứ hai, phát triển thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp. Hiện thị trường mua bán nợ tại Việt Nam còn rất nhỏ và thiếu nhà đầu tư chuyên nghiệp. Cần cho phép nhiều tổ chức trong và ngoài nước tham gia mua bán nợ, hình thành sàn giao dịch nợ xấu minh bạch để tăng thanh khoản tài sản.
Thứ ba, cho phép tái cấu trúc doanh nghiệp vay vốn thay vì chỉ siết nợ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy xử lý nợ hiệu quả nhất là phục hồi được doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp còn khả năng phục hồi, ngân hàng nên được hỗ trợ cơ chế cơ cấu lại dòng tiền, giãn nợ, tái cấp vốn có điều kiện thay vì phát mại tài sản ngay lập tức.
Thứ tư, nâng chuẩn quản trị rủi ro theo Basel III. Hệ thống ngân hàng cần tiếp tục nâng chuẩn quản trị rủi ro, tăng vốn tự có và áp dụng các mô hình cảnh báo sớm. Ngân hàng càng phát hiện sớm khoản vay có vấn đề thì chi phí xử lý càng thấp.
Thứ năm, kiểm soát dòng vốn vào lĩnh vực rủi ro cao. Một bài học lớn từ các chu kỳ nợ xấu trước là tăng trưởng tín dụng quá nóng vào bất động sản và lĩnh vực đầu cơ. Do đó, việc kiểm soát chất lượng tín dụng cần được đặt lên trên tốc độ tăng trưởng dư nợ.
Cuộc đua mới của ngành Ngân hàng không phải tăng trưởng nhanh nhất, mà là an toàn nhất. Thực tế cho thấy ngành Ngân hàng đang bước vào giai đoạn thay đổi tư duy rõ rệt.
Nếu trước đây nhiều ngân hàng ưu tiên tăng trưởng tín dụng để mở rộng quy mô, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang năng lực chống chịu rủi ro và chất lượng tài sản.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, cuộc đua của ngành Ngân hàng lúc này không còn là ai tăng trưởng nhanh hơn, mà là ai đủ “bộ đệm” mạnh hơn để đi qua chu kỳ khó khăn. Bởi sau cùng, lợi nhuận có thể giảm trong một vài quý, nhưng nếu nợ xấu mất kiểm soát, cái giá phải trả sẽ kéo dài nhiều năm./.
Bình luận bài viết