Nhà báo - Cựu chiến binh Nguyễn Đăng Văn, quê quán tại Hải Phòng (Bút danh: Nguyễn Đăng, Hoài Văn), hiện định cư tại Hà Nội, là phóng viên Tạp chí Điện tử Hoà nhập. Ông tham gia chiến dịch mùa Xuân 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn Xuân 1975, giải phóng Campuchia trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam Tổ quốc 1979 và chuyên gia Văn hoá giúp nước bạn tại tỉnh Svây Riêng. Hiện anh là Phó Ban Liên lạc Hội Cựu chiến binh Tiểu đoàn 1 Long An (Tây Ninh), Quân khu 7 - Đơn vị Ba lần Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (Khu vực phía Bắc).
Bên cạnh hoạt động báo chí, nhà báo Nguyễn Đăng Văn đã xuất bản 2 tập thơ (in chung với nhiều tác giả): Hồn quê Trạng trình và Bút Sinh hương do Nhà Xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2016 và 2020. Gần đây, ông vừa cho ra mắt 2 ấn phẩm in riêng: Khoảng trời không im lặng (Thơ) và Xa ngái mười năm ta nhắc lại tên mình (Tập Bút ký, Ký) đều do Nhà Xuất bản Văn học xuất bản năm 2026. Tạp chí Điện tử Hoà nhập trân trọng giới thiệu bài viết của Nhà văn Kim Chuông nhân đọc Tập thơ Khoảng trời không yên lặng của Nhà báo - Cựu chiến binh Nguyễn Đăng Văn vừa xuất bản.

Bìa hai cuốn sách của Nhà báo - Cựu chiến binh Nguyễn Đăng Văn vừa được Nhà Xuất bản Văn học ấn hành năm 2026.
“KHOẢNG TRỜI KHÔNG YÊN LẶNG”
VÀ NĂNG LƯỢNG KHAI SÁNG HỒN MÌNH
(Đọc “Khoảng trời không yên lặng” - Tập thơ của Nguyễn Đăng Văn -
Nhà Xuất bản Văn học, 2026)
Nhà thơ Kim Chuông
Trên đất An Hoà - Đất Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Đất của Danh nhân văn hoá Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm, một đại thụ tỏa bóng trùm suốt thế kỷ mười sáu của giang sơn nước Việt …
Tôi có thời gian dài gắn bó, đi về với “Tạ Ngoại, An Lãng, Nội Tạ, Kênh Hữu, Thượng Đồng”…Nơi bóng dáng của một “làng văn hiến” khá “phương danh, cẩm tú”. Nơi đây, tôi có niềm vui, niềm vinh hạnh được kết thân với cụ Phạm Mạch, một người bạn vong niên. Một Nhà báo của một thời xa lắc. Một Chủ tịch huyện (đã quá cố từ lâu.) Rồi, Doanh nhân nổi tiếng Nguyễn Văn Thêm. Với Văn Thi sĩ Tô Ngọc Thạch, Nguyễn Thị Thúy Ngoan, Nguyễn Đăng Văn. Cả Hoạ sĩ Nguyễn Nghiêm nữa. Trong hàng chục danh tài của An Hòa với mỗi người một vẻ khả kính. Với Nguyễn Đăng Văn, tôi đem lòng quý yêu chàng trai này ở nét thư sinh. Nét đẹp trai, thông minh, mẫn tiệp. Với nước da trắng hồng, nụ cười tươi, giọng cởi mở, chân tình, Nguyễn Đăng Văn là sự ăn khớp, hài hòa thống nhất giữa dáng vẻ anh. Tính cách - Con người anh. Và, công việc anh làm.
Tôi gọi Nhà báo, Thi sĩ Nguyễn Đăng Văn là “nhà hoạt động xã hội” tích cực. Bởi, anh là người khá đam mê với văn chương, báo chí. Người cộng sự mẫn cán và thân thiết, nhiều năm cùng Doanh nhân Nguyễn Văn Thêm, Tiến sĩ Phạm Từ, GS.TS Nhà giáo nhân dân Nguyễn Quang Ngọc, Nhà văn Nguyễn Xuân Hải, Tién sĩ Đào Trọng Chương, Thiếu tướng Phạm văn Thi…đem lại nhiều đóng góp trong rất nhiều hoạt động sôi nổi, hữu ích của khá nhiều tổ chức xã hội trên đất Vĩnh Bảo - Hải Phòng - Hà Nội.
Nguyễn Đăng Văn tuổi Ất Sửu (1955) Khi mới 18 tuổi, sau khi tốt nghiệp cấp 3 (hệ 10/10), Nguyễn Đăng Văn đã tình nguyện từ giã mẹ cha, xóm giềng, bè bạn, xung phong lên đường khoác lên mình áo trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
Nguyễn Đăng Văn trở thành người lính của Tiểu đoàn Một Long An, Quân khu 7 (Tiểu đoàn Ba lần Anh hùng). Và Long An, một vùng miền Tây sông nước của phương Nam ấy đã hóa thành quê hương thân thiết suốt những tháng năm dài trong anh. Đã nằm sâu trong “tâm hồn, máu thịt anh”. Đã gắn đời anh với bao nhiêu kỷ niệm thật nồng thắm, nặng đằm, trong chiến đấu, hy sinh, trong “nắm đất đào lên hồn anh vẫn đỏ”…Trong tình yêu đất nước, quê nhà, trong gia cảnh, cháu con, trong duyên phận lứa đôi…
Có tới hơn chục năm đi qua trận mạc, từ người lính bộ binh, Nguyễn Đăng Văn trở thành Trợ lý Chính trị Tiểu đoàn. Với thành tựu đáng kể trên lĩnh vực báo chí cùng những sáng tác văn chương mà anh đã khẳng định mình ở chặng đường dài lao động, sáng tạo. Nguyễn Đăng Văn từ Quân đội rồi chuyển ngành về Hội Văn học Nghệ thuật Long An làm cán bộ biên tập của Tạp chí Văn nghệ Vàm Cỏ, rồi được tổ chức điều về Ty Văn hoá Thông tin Long An, sau làm Giám đốc Trung tâm Thông tin Triển lãm của tỉnh nhưng anh vẫn miệt mài với “cái nghiệp” văn chương chữ nghĩa mà anh vốn mê say.
Tôi có nhiều kỷ niệm đẹp với Nguyễn Đăng Văn trong nhiều cuộc gặp gỡ, giao lưu với các văn nghệ sĩ, báo chí. Những buổi tôi và anh cùng trò chuyện văn chương với những cựu chiến binh của Tiểu đoàn 1 Anh hùng trên đất quan họ Bắc Ninh.
Rồi, anh tổ chức long trọng buổi lễ khi đưa cháu Nguyễn Hoài Nhã Thư, con gái rượu của anh cùng chồng là cháu Tấn Cường từ Long An về dâng hương tiên tổ và ra mắt đôi lứa trên quê nội, đất An Lãng, An Hoà…Rồi, rất nhiều buổi tề tựu nữa trên đất quê Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Bảo, mà tôi không nhớ nổi. Chỉ biết, những cuộc “đại sự” ấy, Nguyễn Đăng Văn luôn đứng trong vị thế “chủ trò.” Luôn bận rộn, toan lo, vất vả vì công việc, vì ý nghĩa to lớn nằm ở cái chung mà anh đang nhiệt tình gánh vác.
Những năm qua, cùng với công việc báo chí, với văn chương, tôi biết, Nguyễn Đăng Văn vẫn thầm lặng viết và công bố những bài thơ, những tâm tình tươi xanh, nhỏ lẻ. Nguyễn Đăng Văn viết nhiều. Viết từ thuở đầu xanh, khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Viết dọc đường hành quân ra trận. Viết sau chặng đời khi buổi nắng chiều đang mở ra trước mặt. Tôi quý Nguyễn Đăng Văn ở cái “Tự thức” với “ý thức” khiêm nhường, khi với thi ca. Khi mỗi lần ngước lên, anh tự biết, trước mắt mình có bao nhiêu “Quả núi.” Khi anh biết cái sở trường, sở đoản là gì mà anh không dám liều mình, đặt cược mình vào lối tìm không phải là lợi thế.
Vâng. Socrate, nhà triết học cổ Hy Lạp đã nói rất hay về học thuyết “tự nhận thức” đại ý rằng: Là hoa hồng thì cứ đỏ, là hoa huệ cứ trắng thơm, là biển cả cứ dữ dội réo gầm, còn là mặt ao thu thì hãy cứ êm xanh, lặng lẽ…Bởi, mỗi cái là “Nó,” nó đều có dáng vẻ, sắc thái riêng của nó, kia sao ?
Nguyễn Đăng Văn dè dặt, không dám trao cho mình niềm tin là vậy. Thực tình thì, khi tôi đọc Nguyễn Đăng Văn trong rải rác dài xa đâu đó, nhất là trong tập hợp mới nhất gần đây ở “Khoảng trời không yên lặng” - Một tập thơ của anh với hàng trăm sáng tác, tôi đang có trên tay, thì, không còn nghi ngờ gì nữa, Nguyễn Đăng Văn đích thực là một Thi sĩ. Thi sĩ của con tim dễ ngân nga, run rẩy. Thi sĩ của niềm yêu thương, nồng đượm. Thi sĩ của phút luôn mở lòng, muốn ôm trùm ngoại giới. Muốn đằm mình trong trực giác, đối thoại. Muốn tìm được hồn mình “cái đại mộng” từ bao nhiêu “đại giác” bộn bề và sinh động được gọi về từ phía rộng lớn ngoài kia.
“Khoảng trời không yên lặng” hay chính cõi hồn thi nhân không một chút yên bình ?
Vâng. Nhờ có cái không tĩnh lặng, không yên bình ấy mà Nguyễn Đăng Văn luôn day trở. Luôn đốt lên ngọn lửa trong mình. Luôn lung linh, chớp sáng và vang lên trong va đập, trong xô tấp, trong vọng về những lớp sóng của đời thực. Của cõi lớn Ta bà…Và, đấy chính là mắt bão. Là Nền, là Cội đã làm nên thi hứng. Làm nên Nguyễn Đăng Văn với những câu thơ trong thăng hoa, cất cánh. Để rồi, Nguyễn Đăng Văn đã hiện hình một chân dung thi sĩ với bao nhiêu cung bậc của trạng thái hồn mình.
Hãy đọc:
Tôi thẫn thờ dừng lại dưới vòm tre
Nghe gió thổi rưng rưng từng mạch máu
Màu áo lính sau những ngày chiến đấu
Xanh lạ lùng dưới nắng ấm mùa xuân.
(Ngõ quê)
Đấy là hình ảnh “Ngõ quê” trong cái Nhìn, cái Cảm. Còn đây là cái Nhìn với cái Nghe trong lặng thầm, tinh tế:
… Dăm cây lúa xòe nhánh bông nắng thiếu
Bàn chân người đọng những chiếc lá khô …
Thật dễ thấy, cái bâng khuâng, ngơ ngác ở Nguyễn Đăng Văn, khi nhà thơ từ “Cảnh- Sự,” mà đẻ ra cái “Tình” trước câu thơ giàu “Thi nhãn” và “Tâm thi” là vậy:
Nhà em cửa đóng giờ ai ở
Xao xác lòng ta gió heo may
(Niềm riêng Hà Nội)
Hoặc:
Những gánh nước trên vai tròn con gái
Mang trăng về sóng sánh ngõ thân quen
(Bên đập Cầu Chùa)
Hoặc:
Kề môi rượu đắng tràn ly
Ngồi đây ta nhớ một vì sao xa.
(Nghĩ trong ngày đại dịch)
Hoặc:
Cầm bàn tay ấm già nua
Nghe cơn gió bấc thổi chưa cũ càng…
(Ngỡ xanh tóc trắng giữa mưa trắng trời)
Ồ, Thi sĩ lắm chứ. Lãng mạn và mộng mơ lắm chứ.
Phải nói, từ cái “Khoảng trời không yên lặng” đã mang đến cho Nguyễn Đăng Văn, cho người thơ sự “không yên lặng” là thế. Xuân Diệu gọi “Thơ là sự cưới nhau giữa hiện thực đời sống với sức rung cảm của hồn người”
“Khoảng trời không yên lặng” của Nguyễn Đăng Văn là thơ của người lính. Thơ của một thời trận mạc. Dường như, ở hầu khắp trang viết, hoặc đậm, hoặc thấp thoáng, hình ảnh đạn bom, tiếng súng với sự anh dũng hy sinh là cả một không gian khốc liệt của một thời chiến trường, trận mạc. Đấy cũng là “không gian thơ” với bao nhiêu cảnh huống, cảnh sự. Bao nhiêu tâm tình cùng nghĩ suy, liên tưởng.
Ở “Khoảng trời không yên lặng” của Nguyễn Đăng Văn là cả một dặm dài của cuộc Đi và Gặp.
“Đi và Gặp” để ôm lấy “Thế giới ngoại giới” mà đem về, mà có được “Thế giới Hồn mình.” Nghệ thuật này, buộc Nguyễn Đăng Văn phải luôn bám chặt vào hiện thực. Lấy sự phong phú, sinh động của hiện thực làm sức cứu cánh, làm cái “mỏ lộ thiên” để xới cày, khai thác.
Và. Thơ ở “Khoảng trời không yên lặng” trôi trên dòng Tự sự. Thơ đậm chất Ký. Thơ hướng ngoại. Thơ đi từ cái Rộng - Cái ngoài Ta. Để rồi, những mong, từ cái ngoài Ta, cái Rộng sẽ mở ra “cái Rộng” tiếp theo nào đó, ở tư tưởng nhà văn, ở thông điệp gửi gắm. Ở giá trị nhận biết sau những gì phản ánh.
Đi trên hướng mở này, Nguyễn Đăng Văn bám vào nhiều sự kiện. Bám nhiều vào chuyện kể. Bám nhiều vào cuộc mô tả, để tạo dựng, tái tạo. Để có được những bức tranh giàu thi ảnh, thi liệu.
Ví như :
Xe tăng quân đoàn ào lên
Pháo địch bặt im nhanh hơn tôi nghĩ
Chợt ngoảnh lại, đồng đội tôi trẻ quá
Đã ra đi vĩnh viễn, lúc giặc hàng
(Với Sài Gòn tôi vẫn là người lính)
Hoặc:
Bạn bè tôi nằm lại những cánh rừng
Họ đã hóa thành mùa xuân đất nước
Họ đã hóa thành hạnh phúc
Của đời tôi mãi mãi biếc màu cây
(Trước hương hồn bạn mùa xuân)
Hoặc:
Chúng tôi về thị xã tháng Năm
Những vòm cây xanh rờn trên mũi súng
Giữa cờ hoa rực rỡ trời giải phóng
Màu áo chúng tôi bình dị giữa dòng người
(Những vòm cây)
Hoặc:
Ánh mắt anh về mang cả ánh sao khuya
Những tháng năm các anh nằm giữ chốt
Em bé Campuchia ngủ vừa tròn giấc
Anh nhận tiếp niềm vui sâu lắng tình người
(Người lính trở về)
Bám chặt cái - Bên - ngoài, nếu chỉ dừng lại mô tả chân dung bề mặt, thơ sẽ thiếu đi một tầng chìm của chiều sâu suy tưởng.
Ở “Khoảng trời không yên lặng” Nguyễn Đăng Văn đã kết hợp hài hoà thi pháp “Kể - Tả - và Bình”. Và anh đã có được những trang viết khá ấn tượng và gợi, ở các bài Cầu Mục, Lời chú thích cho một tấm ảnh, Chiếc mũ (thơ viết tặng đồng đội làm nhiệm vụ Quốc tế ở Campuchia)…Hay Thơ viết tặng con, Thơ viết trên Đường 49, Nói với con về chiếc võng, Thơ cuối năm ở phân xưởng dệt, Thơ Với tác giả “Cái đêm hôm ấy đêm gì”…Vân Vân và v. v…
Ví như, ở bài “Trước hương hồn bạn mùa xuân” từ những câu thơ chỉ là “cái Thấy” bên ngoài, Nguyễn Đăng Văn đã tìm về “cái Biết” trong chiều sâu, nơi ta biết mở mắt ngẫm suy:
… Phải đi qua dọc dãy Trường Sơn
…
Trước mùa xuân…vắng tiếng cười bè bạn
Trái tim tôi lại bùng lên khát vọng
Những nẻo đường Tổ quốc, tuổi hai mươi
Hoặc, sau câu thơ mang “cái Tĩnh” bên ngoài, người viết đã nối vào “cái Động” tạo nên vệt loang thấm của chiều sâu phát hiện:
… Nấm mộ bạn tôi giờ cỏ đã lên xanh
Màu cỏ đấy hay màu cây quê mẹ
Ơi màu cây xanh mãi thời trai trẻ
Đã giúp tôi nhận được chính mình
(Những vòm cây)
Hoặc:
Mưa cứ rơi xòe tay là đón được
Giọt nước rơi xuôi, lòng tôi chảy ngược chiều
(Khoảng trời không yên lặng)
Hoặc:
Cuộn vải dài thêm, chảy mãi tựa dòng sông
Để lòng tôi đã buông neo xuống đó
Áo tôi mặc không còn im lặng nữa
Có trăm ngàn sợi ấm ở tay em
(Thơ cuối năm ở phân xưởng dệt)
Những câu thơ trên đã làm nên “cái Đế” nâng dậy một khoảng sáng với sức nặng có được ở chiều kích tư duy, ở sức ám ảnh khi trang thơ khép lại.
Ở “Khoảng trời không yên lặng” điều cần nói, “không gian thơ” quen thuộc, gắn bó và tâm huyết nhất được Nguyễn Đăng Văn bâm sâu khai thác, đấy là vùng sông nước Long An. Nơi ấy, một thời xuân xanh. Thời trẻ trai. Thời chiến trường, trận mạc. Thời yêu đương trắng trong, tươi đẹp nhất của đời anh. Mảnh đất yêu thương ấy, một thời trai. Và giờ đây. Và dài xa hơn nữa, hai người con hiếu đễ cùng những đứa cháu nội ngoại thảo hiền trong ngôi nhà lớn hạnh phúc của anh vẫn tháng ngày gắn bó, cùng bà con, cô bác láng giềng chung tay dựng xây một vùng quê hương đất nước đẹp giàu.
Bởi thế, đây là lý do, là nguyên cớ đẹp để người đọc bắt gặp và nhận ra Nguyễn Đăng Văn có được những câu thơ máu thịt với đất này:
Ví như:
… Khẽ gọi: Đồng Tháp ơi
Cồn cào bao nỗi nhớ
Đóa Sen là ngọn cờ
Sen hóa thành ngọn lửa
(Lại viết về hoa sen)
Hoặc:
Phải đến khi hiểu rõ đất Tháp Mười
Mới có lối vào trái tim Người Đẹp
Mới có tình yêu nở bừng tinh khiết
Trao tặng cho ta của cải vô vàn
(Một cách ví von)
Hoặc:
Nhớ thương chưa kịp đã nhàu
Câu thơ chưa viết đã màu chia phôi
(Ngỡ xanh tóc trắng giữa mưa trắng trời)
Và:
Tháp Mười ta sống đã quen
Hỡi ai thiếu đất thì lên cấy trồng…
(Gửi người đi xây dựng Đồng Tháp Mười)
Tựu chung, với “Khoảng trời không yên lặng.” Với Nguyễn Đăng Văn, đây là tập thơ mang cái Hay trội vượt ở “cái tươi xanh” nơi hiện thực cuộc đời. Cái người viết coi trọng cái Cảm, coi trọng chất trữ tình trên nền thơ truyền thống. Tập thơ với giá trị hữu ích mà những trang viết đã làm nên cái Hay, cái Đẹp ở sự chân thành, chân mộc. Ở cảnh huống, sự kiện nơi câu thơ phát lộ. Ở những câu thơ hay khi nó được đẩy về cái Ảo. Cái Thi ảnh, thi liệu khi được “điển hình hóa, khái quát hóa”. Rồi, lại trở về cái thật “Cá thể hóa” với gốc rễ từ “Tâm thi” từ trái tim của người cầm bút - Là Anh.
Xin chúc mừng Thi sĩ Nguyễn Đăng Văn, từ những diện kiến, những vang động “Không yên bình” nơi góc hồn người viết để có được những gì là hoa trái, sắc hương đã và đang vang lên những dư ba, những tỏa lan trên trang thơ trước “Khoảng trời không yên lặng.”
Hà Nội, Tiết Quý Thu, 2025
K.C
Bình luận bài viết