Hà Nội
Thứ 6, 19/06/2026
Nhiều mây
24°C

Phía Đông Ninh Bình: Cần một chiến lược hạ tầng mới để đánh thức không gian du lịch biển, sinh thái và di sản

Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Ninh Bình bước vào một giai đoạn phát triển mới với không gian rộng hơn, tài nguyên đa dạng hơn và dư địa tăng trưởng lớn hơn.

Nếu Ninh Bình trước đây được biết đến với Quần thể danh thắng Tràng An, Cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động; Hà Nam nổi bật với Tam Chúc và các điểm du lịch tâm linh; thì phần lãnh thổ Nam Định cũ bổ sung cho tỉnh mới một trục tài nguyên đặc biệt: vùng cửa sông - ven biển phía Đông, nơi hội tụ biển, rừng ngập mặn, nhà thờ cổ, chùa cổ, làng cổ, đền phủ, tín ngưỡng thờ Mẫu, văn hóa làng quê và sinh kế ngư nghiệp.

Trong cấu trúc phát triển mới, khu vực Xuân Trường – Giao Thủy – Hải Hậu trước đây có vị trí rất đặc biệt. Vùng đất này được giới hạn bởi sông Hồng, sông Ninh Cơ và biển Đông, là không gian chuyển tiếp giữa đồng bằng châu thổ, cửa sông và duyên hải. Đây không chỉ là vùng đất có bề dày văn hóa – tôn giáo – sinh thái, mà còn là khu vực có khả năng hình thành một cực tăng trưởng du lịch mới của tỉnh Ninh Bình, bổ trợ trực tiếp cho trục di sản Tràng An – Bái Đính – Tam Chúc và mở rộng không gian phát triển của tỉnh ra biển.

Vấn đề đặt ra hiện nay không phải là phía Đông Ninh Bình có tiềm năng hay không. Tiềm năng đã hiện hữu qua biển Giao Ninh, Hải Thịnh; qua Vườn quốc gia Xuân Thủy; qua Nhà thờ Bùi Chu, Vương cung Thánh đường Phú Nhai; qua Chùa Keo Hành Thiện, làng cổ Hành Thiện; qua các trục kết nối với Chùa Cổ Lễ, Đền Trần, Phủ Dầy, Chùa Hổ Sơn và xa hơn là Tràng An, Bái Đính, Tam Chúc. Câu hỏi trọng tâm là làm thế nào để biến tiềm năng ấy thành sản phẩm du lịch có thương hiệu, thành danh mục dự án có sức hấp dẫn nhà đầu tư và thành động lực phát triển bền vững cho vùng ven biển phía Đông.

Phía Đông Ninh Bình: Cần một chiến lược hạ tầng mới để đánh thức không gian du lịch biển, sinh thái và di sản

Vườn quốc gia Xuân Thủy có tiềm năng lớn về du lịch

Muốn làm được điều đó, Ninh Bình cần một chiến lược mới về quy hoạch hạ tầng du lịch. Không thể đánh thức du lịch biển chỉ bằng khẩu hiệu, lễ hội hay truyền thông. Cũng không thể tái định vị thương hiệu Giao Ninh nếu thiếu bãi đỗ xe, thiếu quảng trường biển, thiếu khách sạn đạt chuẩn, thiếu công viên ven biển, thiếu dịch vụ y tế, thiếu hạ tầng môi trường, thiếu khu vui chơi giải trí và thiếu sản phẩm kinh tế đêm. Du lịch muốn phát triển phải có hạ tầng dẫn đường; đầu tư muốn đến phải có quy hoạch mở đường.

Giao Ninh: từ ký ức Quất Lâm đến thương hiệu biển mới

Việc UBND tỉnh Ninh Bình đổi tên Khu du lịch Quất Lâm thành Khu du lịch Giao Ninh là một dấu mốc đáng chú ý trong quá trình tái định vị không gian du lịch ven biển phía Đông. Đây không chỉ là việc điều chỉnh tên gọi cho phù hợp địa giới hành chính mới, mà còn là động thái làm mới hình ảnh điểm đến, định vị lại thương hiệu du lịch biển trong giai đoạn phát triển mới.

Quất Lâm từng là một cái tên có sức nhận diện lớn trong bản đồ du lịch biển miền Bắc. Với nhiều thế hệ du khách, Quất Lâm gắn với hải sản, ăn nghỉ cuối tuần, dịch vụ bình dân, không khí biển dân dã và những ký ức rất riêng của một thời du lịch ven biển phát triển tự phát. Tuy nhiên, thương hiệu Quất Lâm cũng từng đi kèm không ít định kiến về môi trường du lịch, chất lượng dịch vụ, hình ảnh điểm đến và trật tự kinh doanh.

Vì vậy, việc chuyển từ Quất Lâm sang Giao Ninh cần được nhìn nhận như một quyết định có tính biểu tượng. Đây là cơ hội để địa phương khép lại một giai đoạn phát triển cũ, mở ra chu kỳ phát triển mới theo hướng văn minh hơn, chất lượng hơn, an toàn hơn và hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư. Giao Ninh không nên chỉ là tên mới của một bãi biển cũ. Giao Ninh cần được xây dựng thành thương hiệu biển mới của tỉnh Ninh Bình.

Tuy nhiên, thương hiệu không thể chỉ được tạo ra bằng quyết định hành chính. Đổi tên là bước khởi đầu; còn thành công phụ thuộc vào quy hoạch, hạ tầng, sản phẩm, dịch vụ và quản lý vận hành. Nếu Giao Ninh vẫn thiếu không gian công cộng, thiếu điểm nhấn cảnh quan, thiếu khách sạn đạt chuẩn, thiếu khu vui chơi, thiếu tuyến phố ẩm thực, thiếu dịch vụ đêm lành mạnh, thiếu bãi đỗ xe, thiếu hạ tầng vệ sinh môi trường, thì việc đổi tên sẽ không đủ để thay đổi cảm nhận của thị trường.

Do đó, Giao Ninh cần được tiếp cận như một dự án tái thiết điểm đến. Cần quy hoạch lại toàn bộ không gian bãi biển, trục vào biển, khu dịch vụ ven biển, khu lưu trú, khu ẩm thực, không gian đi bộ, quảng trường biển, bãi đỗ xe, công viên cây xanh, điểm ngắm cảnh, hệ thống chiếu sáng, biển hiệu, tuyến giao thông nội bộ, hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải. Chỉ khi hạ tầng thay đổi, dịch vụ thay đổi, môi trường thay đổi và cách quản lý thay đổi, Giao Ninh mới có thể thực sự vượt qua ký ức cũ để trở thành một thương hiệu mới.

Hải Thịnh và chuỗi biển phía Đông: cần thoát khỏi mô hình du lịch mùa vụ

Bên cạnh Giao Ninh, Hải Thịnh là một điểm biển quan trọng của khu vực Hải Hậu trước đây. Nếu Giao Ninh có lợi thế về nhận diện thương hiệu và khả năng tái định vị, thì Hải Thịnh có lợi thế phát triển nghỉ dưỡng gia đình, du lịch cuối tuần, ẩm thực hải sản, thể thao biển và dịch vụ cộng đồng.

Tuy nhiên, điểm nghẽn chung của nhiều khu du lịch biển ven đồng bằng Bắc Bộ là tính mùa vụ cao, sản phẩm đơn điệu và hạ tầng dịch vụ chưa đồng bộ. Khách đến chủ yếu vào mùa hè, thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu chưa cao, dịch vụ vui chơi – giải trí – mua sắm – chăm sóc sức khỏe còn hạn chế. Nếu chỉ dựa vào tắm biển và hải sản, Giao Ninh, Hải Thịnh khó cạnh tranh với các trung tâm biển lớn đã hình thành thương hiệu mạnh hơn.

Vì vậy, định hướng phát triển chuỗi biển phía Đông Ninh Bình không nên dừng ở việc “có biển để tắm”, mà phải chuyển sang mô hình “đô thị dịch vụ du lịch biển”. Trong mô hình này, bãi biển chỉ là hạt nhân cảnh quan; còn giá trị gia tăng nằm ở hệ thống hạ tầng, dịch vụ, sản phẩm trải nghiệm và khả năng tổ chức không gian. Biển Giao Ninh – Hải Thịnh cần có công viên ven biển, quảng trường biển, tuyến đi bộ, phố ẩm thực, khu vui chơi trẻ em, khu thể thao biển, bãi đỗ xe tập trung, trạm sạc xe điện, khách sạn đạt chuẩn, khu nghỉ dưỡng sinh thái, trung tâm thương mại – dịch vụ, điểm y tế du lịch, trung tâm thông tin, không gian kinh tế đêm và hệ thống quản lý môi trường hiện đại.

Phía Đông Ninh Bình: Cần một chiến lược hạ tầng mới để đánh thức không gian du lịch biển, sinh thái và di sản

Nhà thờ đổ Hải Lý (xã Hải Tiến) là một trong những điểm đến độc đáo trong hành trình khám phá du lịch biển Ninh Bình.

Đây là cách để chuyển du lịch biển từ ngắn ngày sang lưu trú dài hơn; từ bình dân tự phát sang dịch vụ có kiểm soát; từ khai thác mùa vụ sang khai thác quanh năm; từ thương hiệu cũ nhiều định kiến sang hình ảnh mới văn minh, sinh thái và có khả năng thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng.

Xuân Thủy: tài sản sinh thái quốc tế của vùng cửa sông

Nếu Giao Ninh và Hải Thịnh là tài nguyên biển, thì Vườn quốc gia Xuân Thủy là tài sản sinh thái có giá trị quốc tế của phía Đông Ninh Bình. Nằm ở khu vực cửa Ba Lạt, nơi sông Hồng đổ ra biển, Xuân Thủy là vùng đất ngập nước tiêu biểu với rừng ngập mặn, bãi bồi, lạch triều, cồn cát, vùng nuôi trồng thủy sản và hệ sinh cảnh của nhiều loài chim di cư.

Giá trị lớn nhất của Xuân Thủy là khả năng tạo ra một dòng sản phẩm khác biệt: du lịch sinh thái cửa sông, quan sát chim, giáo dục môi trường, trải nghiệm rừng ngập mặn, du lịch học đường, du lịch nghiên cứu và du lịch cộng đồng. Đây là những sản phẩm có thể khai thác quanh năm, không phụ thuộc hoàn toàn vào mùa tắm biển, phù hợp với xu hướng du lịch xanh, du lịch trách nhiệm và du lịch có hàm lượng tri thức cao.

Tuy nhiên, Xuân Thủy không phải là nơi có thể phát triển du lịch đại trà theo mô hình bê tông hóa hoặc mở rộng dịch vụ ồ ạt. Với đặc thù là khu Ramsar, mọi hoạt động du lịch phải đặt trong giới hạn bảo tồn. Cần xác lập rõ các phân khu chức năng: khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu phục hồi sinh thái, khu dịch vụ – giáo dục môi trường, khu trải nghiệm cộng đồng, tuyến tham quan bằng thuyền, điểm quan sát chim, trung tâm diễn giải về hệ sinh thái đất ngập nước.

Đầu tư tại Xuân Thủy cần ưu tiên hạ tầng nhẹ, vật liệu thân thiện môi trường, công trình thấp tầng, kiểm soát sức chứa, quản lý chất thải, kiểm soát tiếng ồn và hạn chế tác động tới sinh cảnh chim di cư. Nếu Giao Ninh là hình ảnh của tái thiết du lịch biển, thì Xuân Thủy phải là biểu tượng của du lịch xanh, du lịch sinh thái có trách nhiệm và bảo tồn thiên nhiên trong phát triển.

Vùng đất của nhà thờ cổ, chùa cổ và làng cổ:

Một lớp tài nguyên nổi bật khác của phía Đông Ninh Bình là hệ thống di sản tôn giáo, tín ngưỡng và làng cổ. Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu là vùng có mật độ nhà thờ dày đặc, nhiều công trình có giá trị kiến trúc, lịch sử và tín ngưỡng đặc sắc. Nhà thờ Bùi Chu, Vương cung Thánh đường Phú Nhai và các nhà thờ làng tạo nên một cảnh quan Công giáo rất riêng, khác biệt với các vùng du lịch tâm linh Phật giáo truyền thống.

Bên cạnh đó, Chùa Keo Hành Thiện và làng cổ Hành Thiện là điểm nhấn quan trọng về Phật giáo, kiến trúc cổ và văn hóa làng quê. Không gian Hành Thiện nổi tiếng bởi truyền thống văn hiến, khoa bảng, nếp sống làng quê và cấu trúc cư trú đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đây là tài nguyên rất phù hợp để phát triển du lịch làng cổ, du lịch văn hóa, du lịch giáo dục truyền thống, du lịch trải nghiệm nông thôn và du lịch nghỉ dưỡng chậm.

Ở phạm vi liên kết rộng hơn, khu vực phía Đông có thể kết nối với Chùa Cổ Lễ, Đền Trần, quần thể di tích Phủ Dầy thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chùa Hổ Sơn gắn với Công chúa Huyền Trân và xa hơn là Tràng An, Bái Đính, Tam Chúc, Phát Diệm. Khi đó, du khách không chỉ đi một điểm, mà đi theo một hành trình có chủ đề: từ cố đô đến cửa biển; từ Phật giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu và Công giáo; từ nhà thờ cổ, chùa cổ đến rừng ngập mặn và biển Đông.

Đây là lợi thế khác biệt của phía Đông Ninh Bình. Nơi đây không chỉ có biển, không chỉ có nhà thờ, không chỉ có sinh thái, mà có sự giao thoa hiếm có giữa Công giáo, Phật giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu, di tích triều Trần, làng cổ, rừng ngập mặn, cửa sông và biển. Nếu biết tổ chức tuyến điểm, vùng này có thể phát triển các sản phẩm du lịch chuyên đề như du lịch hành hương đa tín ngưỡng, du lịch kiến trúc tôn giáo, du lịch làng cổ Hành Thiện, du lịch sinh thái cửa sông, du lịch biển cuối tuần và du lịch trải nghiệm cộng đồng.

Bộ giải pháp quy hoạch hạ tầng để khơi dậy tiềm năng du lịch ven biển:

Để phía Đông Ninh Bình trở thành cực tăng trưởng du lịch mới, cần chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên sang tư duy kiến tạo hạ tầng. Hạ tầng ở đây không chỉ là đường giao thông, điện, nước, mà là toàn bộ hệ thống nền tảng phục vụ trải nghiệm du khách, vận hành điểm đến và thu hút nhà đầu tư.

Trước hết, cần quy hoạch lại không gian ven biển theo cấu trúc rõ ràng: khu bãi tắm công cộng, khu quảng trường biển, khu công viên cây xanh, khu dịch vụ ẩm thực, khu lưu trú, khu vui chơi giải trí, khu thể thao biển, khu bãi đỗ xe tập trung, khu thương mại – dịch vụ, khu y tế du lịch và các vùng bảo tồn cảnh quan. Không gian ven biển phải được tổ chức theo nguyên tắc bảo đảm hành lang công cộng tiếp cận biển, hạn chế tư nhân hóa bãi biển, kiểm soát mật độ xây dựng, bảo vệ tầm nhìn ra biển và dành quỹ đất đủ lớn cho cây xanh, quảng trường, giao thông đi bộ

Thứ hai, cần đầu tư hệ thống công viên ven biển và quảng trường biển. Đây là hạ tầng tạo hình ảnh đô thị du lịch. Giao Ninh và Hải Thịnh cần có ít nhất một quảng trường biển trung tâm, kết hợp sân khấu sự kiện, không gian đi bộ, điểm check-in, sân chơi trẻ em, khu thể thao ngoài trời, khu biểu diễn văn hóa và các tuyến cảnh quan kết nối với bãi tắm. Công viên ven biển phải được thiết kế như một không gian công cộng mở, có cây xanh chịu mặn, thảm cỏ, đường dạo, ghế nghỉ, chiếu sáng nghệ thuật, vòi tắm công cộng, nhà vệ sinh đạt chuẩn và các điểm dịch vụ nhỏ được quản lý thống nhất.

Thứ ba, cần phát triển khu vui chơi, giải trí và sản phẩm kinh tế đêm. Du lịch biển phía Đông Ninh Bình hiện thiếu sản phẩm giữ chân du khách sau khi tắm biển và ăn hải sản. Cần quy hoạch các khu vui chơi gia đình, công viên nước quy mô vừa, khu trò chơi trẻ em, sân khấu ngoài trời, phố đi bộ, phố ẩm thực hải sản, chợ đêm, không gian biểu diễn văn hóa làng biển, khu trải nghiệm nghề cá, khu thể thao biển, khu chèo SUP, kayak, đạp xe ven biển và các sự kiện theo mùa. Kinh tế đêm phải được tổ chức văn minh, có giới hạn tiếng ồn, có kiểm soát an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm.

Thứ tư, cần hình thành hệ thống khách sạn, resort và cơ sở lưu trú đạt chuẩn. Một điểm đến muốn thu hút khách có khả năng chi tiêu cao phải có cơ sở lưu trú tương xứng. Giao Ninh – Hải Thịnh cần được quy hoạch các phân khu lưu trú rõ ràng: khách sạn 3 – 5 sao tại các trục trung tâm; resort sinh thái thấp tầng tại khu vực có cảnh quan phù hợp; boutique hotel, homestay, farmstay và lưu trú cộng đồng tại các làng ven biển, làng cổ, vùng sinh thái. Việc phát triển lưu trú phải gắn với tiêu chuẩn kiến trúc, mật độ xây dựng, tầng cao, khoảng lùi, cảnh quan, bãi đỗ xe, xử lý nước thải và phòng cháy chữa cháy. Không nên để tình trạng nhà nghỉ, khách sạn nhỏ lẻ phát triển tự phát, phá vỡ cảnh quan và làm giảm chất lượng điểm đến.

Thứ năm, cần quy hoạch bãi đỗ xe tập trung và giao thông tiếp cận thông minh. Một trong những điểm nghẽn lớn của du lịch biển là ùn tắc mùa cao điểm, xe đỗ tràn lan, xung đột giữa giao thông cơ giới và không gian đi bộ. Do đó, cần bố trí các bãi đỗ xe cửa ngõ tại đầu các trục vào biển, bãi đỗ xe ngầm hoặc bán ngầm tại quảng trường biển nếu điều kiện cho phép, bãi đỗ xe cho xe khách du lịch, bãi đỗ xe cho xe điện nội khu, điểm trung chuyển khách và tuyến xe điện kết nối bãi đỗ xe với bãi tắm. Không gian sát biển nên ưu tiên đi bộ, xe đạp, xe điện và phương tiện thân thiện môi trường.

Thứ sáu, cần đưa trạm sạc xe điện vào quy hoạch hạ tầng du lịch. Xu hướng du lịch xanh và phương tiện điện sẽ ngày càng phổ biến. Các bãi đỗ xe, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, quảng trường biển, trung tâm thương mại – dịch vụ và điểm dừng trên tuyến du lịch cần được bố trí trạm sạc xe điện, trạm sạc xe máy điện, điểm thuê xe đạp điện và xe điện nội khu. Đây không chỉ là tiện ích kỹ thuật, mà còn là thông điệp về điểm đến xanh, hiện đại, phù hợp với chiến lược giảm phát thải và phát triển bền vững.

Thứ bảy, cần phát triển dịch vụ y tế cao cấp phục vụ du lịch. Một điểm đến biển muốn nâng cấp phân khúc khách phải có năng lực bảo đảm an toàn sức khỏe. Giao Ninh – Hải Thịnh – Xuân Thủy cần có trung tâm y tế du lịch hoặc phòng khám đa khoa chất lượng cao, trạm cấp cứu biển, điểm sơ cứu tại bãi tắm, đội cứu hộ chuyên nghiệp, xe cứu thương thường trực mùa cao điểm, dịch vụ telemedicine, liên kết với bệnh viện tuyến tỉnh và các cơ sở y tế tư nhân. Bên cạnh cấp cứu, có thể phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, spa trị liệu, chăm sóc người cao tuổi, du lịch nghỉ dưỡng kết hợp y tế, đặc biệt phù hợp với nhóm khách gia đình và khách trung niên.

Thứ tám, cần đầu tư mạnh hạ tầng môi trường. Đây là điều kiện sống còn của du lịch biển. Các khu du lịch ven biển phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung; kiểm soát nước thải khách sạn, nhà hàng, khu dân cư; thu gom rác thải hằng ngày; phân loại rác tại nguồn; điểm tập kết rác kín; nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn; hệ thống quan trắc chất lượng nước biển; giải pháp chống ngập, chống xói lở bờ biển; bảo vệ hành lang bờ biển, rừng ngập mặn và vùng sinh thái nhạy cảm. Nếu môi trường xuống cấp, mọi nỗ lực quảng bá thương hiệu sẽ mất tác dụng.

Thứ chín, cần nâng cấp hạ tầng giao thông liên vùng. Phía Đông Ninh Bình chỉ có thể phát triển mạnh khi được kết nối thuận lợi với các trung tâm du lịch lớn và các thị trường khách. Cần ưu tiên nâng cấp các tuyến kết nối Tràng An – Bái Đính – Tam Chúc – Phủ Dầy – Đền Trần – Cổ Lễ – Hành Thiện – Bùi Chu – Phú Nhai – Xuân Thủy – Giao Ninh – Hải Thịnh. Đồng thời, cần phát triển tuyến du lịch ven sông, tuyến du lịch bằng thuyền ở khu vực cửa sông, tuyến xe buýt du lịch, điểm dừng chân, trạm thông tin, biển chỉ dẫn đồng bộ và bản đồ số du lịch. Giao thông không chỉ phục vụ đi lại, mà phải trở thành một phần của trải nghiệm.

Thứ mười, cần đầu tư hạ tầng số và quản trị điểm đến thông minh. Các khu du lịch biển cần có wifi công cộng tại quảng trường, bãi tắm, khu dịch vụ; camera an ninh; hệ thống cảnh báo thời tiết, thủy triều, sóng lớn; ứng dụng du lịch số; bản đồ số các điểm đến; vé điện tử; mã QR thuyết minh di tích; phản ánh hiện trường; quản lý lưu trú; quản lý an toàn thực phẩm; quản lý bãi đỗ xe và dữ liệu dòng khách. Hạ tầng số sẽ giúp chính quyền quản lý tốt hơn, doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn và du khách có trải nghiệm thuận tiện hơn.

Từ quy hoạch hạ tầng đến danh mục dự án đầu tư:

Để thu hút đầu tư, tỉnh cần chuyển các định hướng hạ tầng thành danh mục dự án cụ thể. Nhà đầu tư cần nhìn thấy vị trí, quy mô, tính pháp lý, chức năng sử dụng đất, chỉ tiêu quy hoạch, phương thức lựa chọn nhà đầu tư, cơ chế ưu đãi, khả năng hoàn vốn và cam kết đồng hành của chính quyền.

Có thể xác lập một số nhóm dự án ưu tiên:

Nhóm thứ nhất là dự án hạ tầng công cộng do Nhà nước dẫn dắt, gồm đường trục vào biển, đường ven biển, quảng trường biển, công viên ven biển, bãi đỗ xe công cộng, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, thu gom rác thải, chiếu sáng, cây xanh, nhà vệ sinh công cộng, kè bảo vệ bờ biển và trung tâm thông tin du lịch. Đây là nhóm dự án tạo nền cho thị trường.

Nhóm thứ hai là dự án dịch vụ du lịch có thể thu hút đầu tư tư nhân, gồm khách sạn đạt chuẩn, khu nghỉ dưỡng sinh thái, khu vui chơi giải trí, phố ẩm thực, chợ đêm, trung tâm thương mại – dịch vụ, công viên nước, khu thể thao biển, bến thuyền du lịch, khu chăm sóc sức khỏe, phòng khám du lịch chất lượng cao và hệ thống trạm sạc xe điện.

Nhóm thứ ba là dự án du lịch sinh thái và cộng đồng, gồm trung tâm diễn giải Xuân Thủy, tuyến tham quan rừng ngập mặn, điểm quan sát chim, homestay vùng đệm, trải nghiệm nuôi trồng thủy sản, du lịch nghề cá, du lịch làng cổ Hành Thiện, tour xe đạp làng quê, tour ẩm thực ven biển và sản phẩm giáo dục môi trường.

Nhóm thứ tư là dự án bảo tồn và phát huy di sản, gồm hạ tầng đón tiếp tại Chùa Keo Hành Thiện, làng cổ Hành Thiện, Nhà thờ Bùi Chu, Vương cung Thánh đường Phú Nhai và các điểm tâm linh liên kết; bãi đỗ xe, nhà vệ sinh, tuyến đi bộ, biển chỉ dẫn, trung tâm thuyết minh, số hóa di tích và đào tạo hướng dẫn viên địa phương.

Tỉnh cần xây dựng hồ sơ xúc tiến đầu tư riêng cho vùng ven biển phía Đông, trong đó mỗi dự án phải được chuẩn bị ở mức đủ tin cậy. Không nên xúc tiến đầu tư bằng danh mục chung chung. Cần có bản đồ vị trí, hiện trạng đất đai, định hướng quy hoạch, quy mô dự kiến, sơ bộ tổng mức đầu tư, phương thức đầu tư, cơ quan đầu mối, rủi ro pháp lý và lộ trình thực hiện. Đây là điều kiện để chuyển từ “kêu gọi đầu tư” sang “chuẩn bị đầu tư”.

Định vị thương hiệu: miền di sản đa tín ngưỡng – sinh thái cửa sông – biển Đông:

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là định vị lại thương hiệu cho phía Đông Ninh Bình. Nếu chỉ gọi đây là “vùng biển mới của Ninh Bình” thì chưa đủ. Biển Giao Ninh và Hải Thịnh là hạt nhân quan trọng, nhưng lợi thế khác biệt của vùng không chỉ nằm ở biển. Sự khác biệt nằm ở tổ hợp tài nguyên: nhà thờ cổ, chùa cổ, làng cổ, tín ngưỡng thờ Mẫu, di tích triều Trần, rừng ngập mặn, chim di cư, cửa sông, bãi biển và ẩm thực hải sản.

Do đó, có thể định vị phía Đông Ninh Bình là “miền di sản đa tín ngưỡng – sinh thái biển phía Đông Ninh Bình”. Đây là thông điệp đủ rộng để bao quát Công giáo, Phật giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu, văn hóa làng quê, sinh thái Xuân Thủy và du lịch biển. Đồng thời, đây là định vị đủ khác biệt so với Tràng An – Bái Đính – Tam Chúc, giúp phía Đông không bị chìm trong thương hiệu du lịch chung của tỉnh.

Từ định vị này, cần xây dựng bộ nhận diện điểm đến, bản đồ du lịch, cổng thông tin số, video quảng bá, hệ thống biển chỉ dẫn, câu chuyện thương hiệu cho từng tuyến, từng điểm. Giao Ninh cần được kể như biểu tượng của quá trình làm mới du lịch biển. Xuân Thủy cần được kể như tài sản sinh thái quốc tế. Hành Thiện cần được kể như làng cổ văn hiến. Bùi Chu – Phú Nhai cần được kể như miền thánh đường. Phủ Dầy – Đền Trần – Cổ Lễ cần được kể như trục tâm linh – lịch sử – tín ngưỡng của vùng Nam đồng bằng sông Hồng.

Quản trị phát triển: yếu tố quyết định thành công:

Tiềm năng lớn nhưng nếu quản trị yếu, phía Đông Ninh Bình có thể lặp lại những hạn chế của nhiều khu du lịch biển tự phát: mùa vụ ngắn, dịch vụ manh mún, môi trường xuống cấp, xây dựng thiếu kiểm soát, cạnh tranh bằng giá rẻ, thiếu sản phẩm đặc sắc và thiếu khả năng giữ chân du khách.

Vì vậy, tỉnh cần xây dựng mô hình quản trị điểm đến thống nhất cho khu vực phía Đông. Cần có cơ chế điều phối liên ngành giữa du lịch, xây dựng, tài nguyên môi trường, nông nghiệp, văn hóa, giao thông, công an, y tế, chính quyền cơ sở, ban quản lý di tích, giáo xứ, nhà chùa, cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Phát triển du lịch ở đây không chỉ là câu chuyện của ngành du lịch, mà là câu chuyện của quy hoạch không gian, bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, sinh kế cộng đồng và thu hút đầu tư.

Đối với Giao Ninh và Hải Thịnh, cần quản lý chặt xây dựng ven biển, bảo vệ hành lang bờ biển, kiểm soát xả thải, tổ chức không gian công cộng và nâng chuẩn dịch vụ. Đối với Xuân Thủy, cần đặt bảo tồn lên hàng đầu, phát triển du lịch có kiểm soát, không phá vỡ sinh cảnh. Đối với các di tích tôn giáo, cần tôn trọng không gian tâm linh, tránh thương mại hóa quá mức. Đối với làng cổ, cần kiểm soát cải tạo xây dựng, bảo tồn cấu trúc làng và khuyến khích người dân tham gia chuỗi giá trị du lịch.

Một điểm cần nhấn mạnh là vai trò của chính quyền trong kiến tạo thị trường. Nhà nước không nhất thiết làm thay doanh nghiệp, nhưng phải làm tốt quy hoạch, hạ tầng khung, môi trường đầu tư, cải cách thủ tục và quản trị điểm đến. Khi Nhà nước đầu tư đúng phần nền tảng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở đầu tư vào dịch vụ, lưu trú, vui chơi, nghỉ dưỡng, y tế, thương mại và kinh tế đêm.

Kiến nghị chính sách:

Để khu vực phía Đông Ninh Bình trở thành cực tăng trưởng du lịch mới, cần triển khai một số định hướng chính sách trọng tâm.
Thứ nhất, sớm lập Đề án phát triển du lịch phía Đông Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Đề án cần xác định rõ cấu trúc không gian, sản phẩm chủ lực, danh mục dự án ưu tiên, cơ chế huy động vốn, mô hình quản trị và lộ trình thực hiện.

Thứ hai, lập quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết cho các khu vực trọng điểm như Giao Ninh, Hải Thịnh, Hành Thiện, vùng bảo tồn Xuân Thủy và các trục kết nối di sản. Quy hoạch phải đi trước đầu tư, xác định rõ chỉ tiêu sử dụng đất, mật độ xây dựng, tầng cao, khoảng lùi, hành lang bảo vệ bờ biển, không gian công cộng, bãi đỗ xe, cây xanh, hạ tầng kỹ thuật và vùng bảo tồn cảnh quan.

Thứ ba, ưu tiên vốn đầu tư công cho hạ tầng khung. Trọng tâm là đường kết nối, quảng trường biển, công viên ven biển, bãi đỗ xe, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, thu gom rác thải, chiếu sáng, kè chống xói lở, hạ tầng số và trung tâm thông tin du lịch. Đây là phần việc Nhà nước cần đi trước để tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

Thứ tư, xây dựng danh mục dự án xúc tiến đầu tư chuyên biệt cho vùng ven biển phía Đông. Danh mục cần chia theo nhóm: hạ tầng công cộng, lưu trú – nghỉ dưỡng, vui chơi – giải trí, y tế – chăm sóc sức khỏe, sinh thái – cộng đồng, bảo tồn – di sản, thương mại – dịch vụ và kinh tế đêm.

Thứ năm, ban hành bộ tiêu chí phát triển du lịch xanh cho Giao Ninh – Hải Thịnh – Xuân Thủy. Bộ tiêu chí cần quy định về quản lý chất thải, tiết kiệm năng lượng, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, bảo vệ nước biển, bảo vệ rừng ngập mặn, kiểm soát tiếng ồn, kiểm soát mật độ xây dựng và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Thứ sáu, phát triển nguồn nhân lực du lịch địa phương. Người dân cần được đào tạo về làm du lịch cộng đồng, ứng xử văn minh, vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ năng hướng dẫn, kỹ năng phục vụ, ngoại ngữ cơ bản, quản lý homestay, bảo vệ môi trường và khai thác văn hóa bản địa. Khi cộng đồng được hưởng lợi, du lịch mới có nền tảng bền vững.

Thứ bảy, xây dựng chiến dịch truyền thông mới cho thương hiệu Giao Ninh và toàn vùng phía Đông. Truyền thông cần đi cùng sản phẩm thực chất. Không nên quảng bá quá mức khi hạ tầng chưa sẵn sàng, nhưng cũng không nên để một vùng tài nguyên lớn tiếp tục đứng ngoài bản đồ du lịch chủ lực của tỉnh.

Kết luận:

Phía Đông Ninh Bình đang đứng trước một thời điểm có tính bước ngoặt. Sau sáp nhập, vùng đất từng thuộc Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu không còn là rìa không gian phát triển, mà có thể trở thành cửa ngõ biển, cực du lịch sinh thái – văn hóa – tâm linh mới của tỉnh.

Việc đổi tên Quất Lâm thành Giao Ninh là một tín hiệu cho thấy tỉnh đã bắt đầu quá trình làm mới thương hiệu biển. Nhưng để Giao Ninh trở thành thương hiệu thực sự, để Hải Thịnh trở thành điểm nghỉ dưỡng hấp dẫn, để Xuân Thủy trở thành sản phẩm sinh thái quốc tế, để Bùi Chu – Phú Nhai – Hành Thiện trở thành tuyến văn hóa đặc sắc, cần một chiến lược phát triển đồng bộ hơn: quy hoạch rõ, hạ tầng tốt, đầu tư đúng, quản trị nghiêm, bảo tồn bền vững và truyền thông chuyên nghiệp.

Ninh Bình mới đang có trong tay một tổ hợp tài nguyên hiếm có: di sản thế giới, cố đô, chùa lớn, tín ngưỡng thờ Mẫu, di tích triều Trần, nhà thờ cổ, chùa cổ, làng cổ, rừng ngập mặn, cửa sông và biển. Nếu biết kết nối các giá trị này bằng hạ tầng hiện đại, sản phẩm đặc sắc và danh mục đầu tư cụ thể, phía Đông Ninh Bình hoàn toàn có thể trở thành một cực tăng trưởng mới, góp phần đưa tỉnh trở thành trung tâm du lịch văn hóa – sinh thái – tâm linh – nghỉ dưỡng hàng đầu vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.
Quất Lâm là ký ức. Giao Ninh là cơ hội. Nhưng cơ hội ấy chỉ trở thành động lực phát triển khi được đặt trong một tầm nhìn lớn hơn: xây dựng phía Đông Ninh Bình thành miền di sản đa tín ngưỡng, sinh thái biển - một không gian đáng sống, đáng đến và đáng đầu tư.

Tin liên quan

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...