Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia: Động lực, trung tâm của phát triển”; trong đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới”. Đó là những quyết sách quan trọng đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn đổi mới mô hình phát triển đất nước, dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đưa nước ta vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Bài tham luận chỉ đề cập vấn đề tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc dựa trên phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó làm rõ mục tiêu, yêu cầu và một số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
Mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới
Đất nước ta đang đứng trước thời cơ mới, thách thức mới, yêu cầu cần có chủ trương, chính sách và quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng để tạo xung lực mới, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Để đạt được điều đó, Đảng ta xác định: mục tiêu của quốc phòng, an ninh là: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; “kiên định, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ vững, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh chế độ, an ninh văn hóa - tư tưởng”. Theo đó, tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm, từ xa các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước.
Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đảng chỉ rõ: “Tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia; xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, “gắn với thế trận lòng dân, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc”. Trong đó, chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về quốc phòng, an ninh, các vấn đề trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự. “Bảo đảm về mọi mặt để giữ vững ổn định chính trị, xã hội, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố; ứng phó kịp thời hiệu quả thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống”. Cùng với đó, nắm và dự báo chính xác tình hình; tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an ninh; nâng cao nhận thức về đối tác, đối tượng; tăng cường xây dựng lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh. “Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa, khắc phục hậu quả chiến tranh”.
Nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong điều kiện mới, đồng thời: “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; chú trọng tăng đầu tư hợp lý cho quốc phòng, an ninh, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao”. Ngay từ thời bình cần đầu tư nghiên cứu chế tạo, sản xuất các loại vũ khí công nghệ cao, vũ khí không người lái như: Robot, tầu ngầm mi ni, xuồng không người lái mang bom cảm tử bố trí bảo vệ các vùng biển đảo, căn cứ xa bờ; vũ khí trí tuệ nhân tạo (AI), máy bay không người lái UAV,…Theo đó, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; “kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh”. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Từ kinh nghiệm qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống đế quốc Mỹ xâm lược ở Việt Nam trước đây và các cuộc xung đột vũ trang gần đây như: Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga với Ukraina, của liên quân Mỹ - Israenl và Iran tại Trung Đông, trên cơ sở nghiên cứ, dự báo tình hình và làm tốt công tác chuẩn bị, Đảng ta yêu cầu “thực hành triệt để quan điểm: “Dân là gốc”. Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. “Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”. Đây thể hiện sự kế thừa, phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; khơi dậy ý chí, khát vọng, niềm tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Một số nhiệm vụ, giải pháp tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Thế giới đang rơi vào trạng thái đa khủng hoảng. Cạnh tranh giữa các nước lớn về địa chiến lược, địa chính trị, địa kinh tế, tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược, công nghệ cao, nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt”. Cùng với đó: “Sự xuất hiện của các loại vũ khí, công nghệ tác chiến, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại đã làm thay đổi cơ bản tổ chức quân đội, hình thái, phương thức tiến hành chiến tranh, can thiệp từ bên ngoài. Cùng với các môi trường tác chiến trên bộ, trên không, trên biển, vũ trụ, tác chiến không gian mạng đã trở thành môi trường thứ năm, với sự ra đời của chiến tranh mạng, tác động sâu sắc đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và mỗi quốc gia, dân tộc”.
Để tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Đây là nguyên tắc sống còn, là nhân tố quyết định tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, không dao động, không thỏa hiệp, không mơ hồ về mục tiêu, nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; trọng tâm là tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh toàn diện, Đảng bộ trong sạch tiêu biểu; củng cố, kiện toàn tổ chức đảng các cấp; nâng cao sức mạnh chiến đấu; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm mỗi cấp ủy, chi bộ, tổ chức đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị.
Hai là, đổi mới toàn diện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Công tác giáo dục chính trị cho toàn dân, toàn quân phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, với nội dung, hình thức, phương pháp ngày càng thiết thực, hiệu quả, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân thấm nhuần Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí chiến đấu kiên cường, trí tuệ sắc bén, đủ khả năng nhận diện, phân tích và đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trong mọi tình huống, nhất là trên không gian mạng và trước tác động đa chiều của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.
Đổi mới, nâng cao tính thiết thực, chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho toàn dân, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị và học sinh, sinh viên. Phổ cập những vấn đề cơ bản về xây dựng, hoạt động của phòng thủ khu vực cho các đối tượng, nhất là cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, xã, phường mới. Đẩy mạnh tuyên truyền, coi trọng phổ biến kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả của các địa phương mới được sáp nhập; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là giải pháp cơ bản nhằm tổ chức, triển khai đồng bộ, thống nhất việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững chắc. “tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, gắn với xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng khu vực phòng thủ chủ động, vững chắc”. Trong đó, cần tập trung nghiên cứu hoàn thiện các đề án đã báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương về đẩy nhanh tốc độ xây dựng các tuyến đường cao tốc giao thông có thể làm nơi cất, hạ cánh các phương tiện bay khi xảy ra chiến tranh. Xây dựng một số công trình đường tàu điện ngầm trên những thành phố, hướng, khu vực chiến lược đặc biệt như ở Thủ đô Hà Nội hoặc một số nơi ta đã làm trước đây. Có kế hoạch khảo sát tu sửa lại các hang động ở các khu ATK, căn cứ cách mạng trước đây để sẵn sàng làm nơi tập kết các kho, các trạm, xưởng bảo đảm vũ khí đạn dược, cơ sở vật chất phục vụ khi có chiến tranh xảy ra. Chuẩn bị chu đáo các phương án động viên nguồn lực cho nhiệm vụ quốc phòng, quân sự khi cần thiết. Xây dựng kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh thống nhất, đồng bộ từ thời bình, kịp thời điều chỉnh khi có chiến tranh; sẵn sàng chuyển nền kinh tế sang thời chiến. Phát huy hiệu quả phương châm “bốn tại chỗ” trong phòng chống thiên tai. Nâng cao chất lượng xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc toàn diện. Phát triển sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ Tổ quốc, củng cố thế trận an ninh nhân dân. Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ “vững mạnh rộng khắp”. Tăng cường quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân với các bộ, ban, ngành, các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Huy Hiệu chia sẻ về phương châm “bốn tại chỗ” nhằm khắc phục hậu quả sau bão lũ.
Bốn là, phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với tăng cường quốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, phải kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong các quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển từng vùng, miến, hướng chiến lược, ngành kinh tế, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm, địa bàn chiến lược, ngành kinh tế quan trọng. Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, tạo nền tảng phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; một số ngành, lĩnh vực sản xuất sản phẩm lưỡng dụng, các mặt hàng chiến lược, thiết yếu. Cần nghiên cứu phòng chống các loại vũ khí sinh học, những loại vũ khí mới xuất hiện trong các cuộc sung đột hiện nay trên thế giới. Đồng thời, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược theo đúng mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định; tập trung ưu tiên triển khai các khu kinh tế - quốc phòng trên các vùng biển, đảo; đầu tư xây dựng một số công trình quốc phòng gắn với đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân, tại các điểm dân cư tập trung ở khu vực biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tuyến ven biển ,… Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế tham gia xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng. Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thẩm định chặt chẽ các dự án đầu tư vào những lĩnh vực, địa bàn chiến lược. Chủ động ngăn chặn những hoạt động lợi dụng hợp tác kinh tế, thương mại, du lịch, đầu tư để gây hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với gia đình thuộc diện ưu tiên, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, các tầng lớp dân cư.
Năm là, tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây vừa là định hướng vừa là nhiệm vụ và giải pháp chiến lược, góp phần quan trọng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình. Đặc biệt, trong đối ngoại quốc phòng với các nước chúng ta phải thực hiện theo nguyên tắc: “đối ngoại quốc phòng 4 không”. Đó là: “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác”, là một trong số chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam. “Ba không” còn lại gồm: Việt Nam không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Bởi vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng, các Bộ, ban, ngành, địa phương, lực lượng; nhất là Quân đội và Công an phải đa dạng hóa nội dung, hình thức quan hệ, hợp tác quốc tế cả song phương và đa phương, bảo đảm phù hợp với quan hệ chính trị, kinh tế, ngoại giao của Đảng, Nhà nước. Tăng cường, mở rộng hợp tác với các đối tác, nhất là đối tác chiến lược, các nước lớn, các nước láng giềng, bạn bè truyền thống, tập trung vào các lĩnh vực mà đối tác có thế mạnh. Ưu tiên củng cố vững chắc quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh với các nước láng giềng, xây dựng, củng cố đường biên giới trên bộ, trên biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, văn bản pháp lý về đối ngoại; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương trong tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chủ trương, chiến lược, đối sách giải quyết quan hệ với các đối tác, không để quan hệ với đối tác này cản trở quan hệ với đối tác khác; chú trọng tham mưu giải quyết các vấn đề biển, đảo, biên giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.
Triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại và mở rộng quan hệ hợp tác song phương với các nước, đưa quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, củng cố tin cậy chiến lược, tạo thế đan xen lợi ích với lợi ích với các nước láng giềng, các nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước ASEAN và các bạn bè truyền thống.
Chủ động, tích cực tham gia có trách nhiệm vào các hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh với các nước, góp phần củng cố lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước và quân đội, công an trên trường quốc tế. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ, toàn diện, sâu rộng của hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định của đất nước.
Nhận diện, xử lý đúng đắn, hài hòa về đối tác, đối tượng, kết hợp chặt chẽ hợp tác với đấu tranh, đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Ngăn ngừa nguy cơ xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc, kiên quyết, kiên trì giải quyết các bất đồng tranh chấp, xung đột, chiến tranh bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đồng thời, tranh thủ tối đa các nguồn lực từ tinh thần, vật chất, kỹ thuật tài chính có được từ tình đoàn kết, hữu nghị, sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh của nước ta trong giai đoạn mới.
Như vậy, tư duy mới của Đảng về tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong kỷ nguyên mới là vấn đề chiến lược rất quan trọng, được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng ngày càng hoàn thiện được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị quán triệt sâu sắc, triển khai thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ, với quyết tâm chính trị cao trong đổi mới mô hình phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường/.
Bình luận bài viết