Hạt nhân của tín dụng nông thôn và chiếc “áo cơ chế” đã quá chật
Nhìn lại toàn cảnh bức tranh tài chính nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, hệ thống QTDND giống như những mạch máu nhỏ vươn tới từng ngõ ngách của làng xã, nơi các ngân hàng thương mại lớn khó lòng bao phủ hiệu quả. Tính đến đầu năm 2026, toàn quốc có gần 1.200 QTDND hoạt động tại hầu khắp các tỉnh thành, phục vụ hàng triệu thành viên. Mô hình tương hỗ này giúp tối ưu hóa dòng vốn nhàn rỗi tại chỗ để tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh quy mô hộ gia đình, hợp tác xã. Tuy nhiên, bản chất của các quỹ này là quy mô nhỏ, năng lực quản trị rủi ro nội bộ hạn chế và cực kỳ nhạy cảm trước các cú sốc kinh tế cục bộ.

Ảnh minh họa. Nguồn Trọng Triết
Chính vì vậy, vai trò đầu mối của Ngân hàng Hợp tác xã (Co-opBank) được thiết lập như một hạt nhân trung tâm nhằm liên kết, điều hòa vốn và giám sát an toàn hệ thống. Co-opBank thực hiện sứ mệnh hỗ trợ dòng tiền, chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu thông qua cơ chế gửi và cho vay điều hòa. Đồng thời, khi một QTDND rơi vào trạng thái mất thanh khoản hoặc mất an toàn hoạt động, Co-opBank chính là lực lượng phản ứng nhanh, thực hiện các biện pháp can thiệp sớm, hỗ trợ tài chính để ngăn chặn hiệu quả hiệu ứng domino đổ vỡ dây chuyền.
Dù mang trọng trách lớn lao như vậy, song năng lực tài chính hiện tại của Co-opBank đang bộc lộ những hạn chế bất cập rõ rệt. Số liệu thống kê cho thấy, vốn điều lệ của Co-opBank trong nhiều năm qua chỉ duy trì ở mức khiêm tốn trên dưới 3.000 tỷ đồng – con số chỉ tương đương với mức vốn pháp định tối thiểu của một ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ. Trong khi đó, tổng tài sản và dư nợ cho vay của toàn hệ thống QTDND đã tăng trưởng mạnh mẽ, gấp nhiều lần quy mô vốn của ngân hàng đầu mối. Tỷ lệ vốn điều lệ trên tổng tài sản hệ thống ngày càng suy giảm sâu, phản ánh một thực tế đáng ngại: chiếc áo cơ chế và năng lực tài chính của hạt nhân điều tiết đã quá chật so với cơ thể đang lớn nhanh của hệ sinh thái tài chính vi mô.
Điểm nghẽn từ quy mô vốn và nguy cơ “pha loãng” năng lực phòng vệ
Sự chênh lệch quá lớn giữa quy mô vốn của Co-opBank và tổng tài sản của hệ thống QTDND dẫn đến một hệ lụy trực tiếp: năng lực điều hòa thanh khoản và xử lý khủng hoảng bị bào mòn nghiêm trọng. Khi thị trường bất động sản nông thôn hoặc các ngành hàng nông thủy sản gặp biến động mạnh (như câu chuyện xuất khẩu gạo hay thủy sản tại ĐBSCL đối diện rủi ro kép về thị trường và biến đổi khí hậu), nhu cầu rút tiền hoặc gia hạn nợ tại các QTDND sẽ tăng đột biến. Nếu cùng lúc có từ 5-10% số lượng quỹ gặp khó khăn về thanh khoản, dòng vốn điều hòa dự phòng của Co-opBank sẽ ngay lập tức rơi vào trạng thái căng thẳng.
Bên cạnh đó, Luật Các tổ chức tín dụng mới đi vào thực thi với những quy định siết chặt hơn về tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và giới hạn cấp tín dụng. Đối với Co-opBank, việc duy trì hệ số CAR theo các tiêu chuẩn mới tiệm cận Basel trong bối cảnh vốn mồi không tăng là một thách thức gần như bất khả thi nếu tiếp tục mở rộng quy mô hỗ trợ các quỹ. Việc thiếu hụt nguồn vốn tự có dài hạn khiến ngân hàng đầu mối buộc phải thận trọng trong việc cho vay hỗ trợ, vô hình trung làm giảm đi tính kịp thời và hiệu quả của các gói cứu trợ hệ thống.
Một điểm nghẽn nghiêm trọng khác là bài toán đầu tư công nghệ số. Trong kỷ nguyên số hóa 2026, khi các ngân hàng thương mại đã phổ cập ngân hàng số, AI và Big Data, thì phần lớn các QTDND vẫn vận hành bằng các hệ thống core-banking lạc hậu, thủ công. Để kéo toàn bộ hệ sinh thái này lên một mặt bằng công nghệ mới, Co-opBank phải đóng vai trò là kiến trúc sư trưởng, đầu tư xây dựng một nền tảng hạ tầng số dùng chung khổng lồ. Chi phí đầu tư cho hệ thống này ước tính lên tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỷ đồng. Rõ ràng, với cấu trúc vốn hiện tại, Co-opBank không thể tự cân đối ngân sách để thực hiện cuộc cách mạng công nghệ này nếu không có nguồn vốn cấp bổ sung từ ngân sách Nhà nước hoặc từ chính các thành viên.
Theo ThS Huỳnh Văn Hòa, Giám đốc Co-opBank Chi nhánh Kiên Giang chia sẻ, “Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân là mô hình đặc thù, mang đậm tính xã hội và nhân văn, nhưng hoạt động dựa trên các nguyên tắc thị trường khắc nghiệt. Chúng ta không thể đòi hỏi một ngân hàng đầu mối có số vốn vỏn vẹn vài ngàn tỷ đồng đi bảo trợ và định hướng cho mạng lưới tài sản hàng trăm ngàn tỷ. Việc tăng vốn cho Ngân hàng Hợp tác xã không đơn thuần là nghiệp vụ kế toán tăng tài sản, mà là giải pháp chiến lược quốc gia nhằm gia cố 'tấm khiên' phòng vệ trước các rủi ro hệ thống. Một năng lực tài chính mạnh mẽ sẽ cho phép Co-opBank thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát từ xa, can thiệp sớm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền ở vùng sâu, vùng xa. Đây là điều kiện tiên quyết để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô nông thôn trong giai đoạn 2026 - 2030".

Ảnh minh họa. Nguồn Trọng Triết
Lộ trình tăng vốn chiến lược - Đòn bẩy khơi thông tài chính vi mô
Để giải quyết triệt để bài toán này, các nhà hoạch định chính sách cần nhìn nhận việc tăng năng lực tài chính cho Co-opBank dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tài chính bền vững. Một lộ trình tăng vốn khả thi cần được chia làm hai giai đoạn rõ rệt với mục tiêu cốt lõi là nâng mức vốn điều lệ lên gấp đôi hoặc gấp ba so với hiện tại.
Phương án tối ưu nhất trong ngắn hạn là Nhà nước cần ưu tiên cấp bổ sung vốn điều lệ cho Co-opBank từ nguồn ngân sách hoặc từ quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp, nguồn thặng dư của các ngân hàng thương mại nhà nước. Đây là nguồn vốn "mồi" cực kỳ quan trọng để định hình lại vị thế và củng cố niềm tin thị trường. Song song đó, cần có cơ chế khuyến khích các QTDND thành viên tăng tỷ lệ đóng góp cổ phần vào Co-opBank thông qua việc trích một phần lợi nhuận giữ lại hàng năm. Điều này không chỉ giúp tăng vốn tự có cho ngân hàng hạt nhân mà còn gắn chặt lợi ích, trách nhiệm của các quỹ thành viên với sự phát triển chung của toàn hệ thống, hiện thực hóa nguyên tắc "tương hỗ, cùng có lợi".
Chuyển đổi số toàn diện - Khi hạt nhân kích hoạt hệ sinh thái
Khi nguồn vốn điều lệ được khơi thông, nhiệm vụ cốt lõi tiếp theo của Co-opBank là chuyển hóa sức mạnh tài chính thành sức mạnh công nghệ để thay đổi diện mạo của toàn hệ thống QTDND. Nguồn vốn mới sẽ được ưu tiên phân bổ để xây dựng một trung tâm dữ liệu tập trung (Data Center) và hệ thống Core-banking đám mây có khả năng tích hợp linh hoạt với tất cả các quỹ thành viên. Thay vì để các quỹ tự bơi trong làn sóng chuyển đổi số với những phần mềm kế toán manh mún, Co-opBank sẽ cung cấp giải pháp trọn gói từ thanh toán không dùng tiền mặt, ví điện tử liên kết, đến các ứng dụng mobile banking mang thương hiệu chung của hệ thống.
Sự đầu tư bài bản này mang lại lợi ích kép: Một mặt, nó giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của QTDND trước các công ty Fintech và ngân hàng thương mại, giữ chân tệp khách hàng nông thôn truyền thống; mặt khác, hệ thống số hóa đồng bộ sẽ cho phép dòng vốn điều hòa giữa Co-opBank và các quỹ được luân chuyển theo thời gian thực (Real-time). Công tác giám sát, cảnh báo sớm các chỉ số an toàn vĩ mô cũng được thực hiện tự động thông qua các thuật toán phân tích dữ liệu lớn, giúp Ngân hàng Nhà nước và Co-opBank phát hiện từ sớm, từ xa các dấu hiệu bất thường về nợ xấu hoặc mất cân đối kỳ hạn tại từng quỹ thành viên cụ thể.
Tăng vốn cho Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam không chỉ đơn thuần là câu chuyện cấu trúc tài chính của một thực thể kinh tế, mà là giải pháp then chốt mang tính vĩ mô để bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính nông thôn, phục vụ trực tiếp cho chiến lược phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh. Trong bối cảnh nền kinh tế năm 2026 đang chuyển mình mạnh mẽ với các yêu cầu cao về phát triển bền vững và bao trùm tài chính, một hệ sinh thái QTDND an toàn, minh bạch dưới sự dẫn dắt của một hạt nhân Co-opBank vững mạnh chính là bệ đỡ vững chắc nhất để dòng vốn tín dụng chính sách và thương mại hòa quyện, tưới mát cho những miền quê Việt Nam./.
Bình luận bài viết