Hà Nội
Thứ 2, 19/01/2026
Nhiều mây
24°C

Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc

20/01/2026 08:30
3:12
Nhân dịp Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Đình Khang – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Tổng LĐLĐVN đã có cuộc trao đổi với báo chí về sứ mệnh lịch sử, vai trò và vị trí của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Kính thưa đồng chí, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế hiện nay, đồng chí đánh giá như thế nào về vai trò, vị trí và sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam sau 40 năm đổi mới?

Kể từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân nước ta luôn khẳng định sứ mệnh lịch sử, vai trò và vị trí của mình là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân tiếp tục giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp duy trì và phát triển sản xuất, tạo ra phần lớn của cải vật chất, đóng góp chủ yếu vào ngân sách nhà nước.

Đồng chí Nguyễn Đình Khang - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,  Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Tổng LĐLĐVN

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, cả nước hiện có khoảng 17,5 triệu lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và 21,2 triệu lao động trong khu vực dịch vụ[1], chiếm khoảng 39% dân số và 73,6% lực lượng lao động xã hội. Chất lượng và trình độ tay nghề từng bước được nâng lên; tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% năm 2020 lên 70% năm 2025, trong đó tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% năm 2020 lên khoảng 29,2% năm 2025. Đặc biệt, đã có một lớp công nhân trẻ, làm chủ khoa học – công nghệ đang hình thành, thể hiện sức bật mới của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Theo ghi nhận của các cấp Công đoàn, trong thời gian qua, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân được cải thiện. Việc làm cơ bản ổn định; thu nhập và tiền lương được nâng lên; môi trường làm việc không ngừng được cải thiện; quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, số vụ tranh chấp và ngừng việc tập thể giảm mạnh. Quy chế dân chủ ở cơ sở được mở rộng; chính sách an sinh và phúc lợi xã hội ngày càng phát triển.

Với vai trò là tổ chức đại diện lớn nhất của người lao động, Công đoàn Việt Nam đã triển khai những giải pháp trọng tâm nào?

Là “tổ chức đại diện lớn nhất, trung tâm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân và người lao động cả nước”, Công đoàn Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp tham gia cùng cả hệ thống chính trị  xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, là lực lượng tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Một là, tăng cường công tác bồi dưỡng, giáo dục, nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Công đoàn đã chủ động, linh hoạt lựa chọn nhiều hình thức, trong đó ứng dụng công nghệ số để đổi mới phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; biên soạn và phát hành lượng lớn tài liệu phục vụ giáo dục chính trị, tư tưởng. Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp lý, công đoàn đã nâng cao nhận thức pháp luật. năng lực tự bảo vệ quyền lợi của người lao động, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động văn hóa và mạng lưới tuyên truyền viên phát huy hiệu quả. Các mô hình thiết chế văn hóa, tổ tự quản tại khu nhà trọ, hoạt động chăm lo đời sống tinh thần tiếp tục được nhân rộng. Hàng năm, có trên 80% đoàn viên, người lao động được học tập, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. 

Hai là, tích cực tham gia đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng suất lao động cho công nhân lao động. Công tác vận động đoàn viên, người lao động học tập suốt đời có nhiều mô hình hiệu quả được nhân rộng; chủ động đề xuất với chính quyền, thương lượng với người sử dụng lao động tạo điều kiện cho công nhân tham gia học tập, nâng cao tay nghề. Các cấp công đoàn đã chủ động phối hợp tổ chức nhiều hoạt động như: xây dựng quỹ khuyến học, điểm học tập; phối hợp tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại; khuyến khích mô hình kèm cặp giữa công nhân bậc cao và công nhân mới. 

Ba là, tạo dựng môi trường để công nhân rèn luyện và trưởng thành thông qua các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động rộng khắp cả nước. Phong trào thi đua yêu nước, “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo” đã có hàng triệu sáng kiến, giá trị làm lợi hàng trăm nghìn tỷ đồng đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần sáng tạo, ý thức kỷ luật và trách nhiệm xã hội của công nhân, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động trên phạm vi cả nước. Tỷ lệ khen thưởng cho công nhân lao động trực tiếp, người không giữ chức vụ lãnh đạo đạt 35,5%, vượt chỉ tiêu đề ra, thể hiện rõ định hướng lấy đoàn viên, người lao động làm trung tâm, hướng mạnh khen thưởng về cơ sở, nơi trực tiếp tổ chức và hưởng ứng các phong trào thi đua. 

 Bốn là, Công đoàn Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Các cấp công đoàn đã tham gia góp ý hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật; tham gia hiệu quả Hội đồng Tiền lương quốc gia, đề xuất điều chỉnh tiền lương tối thiểu; phản ánh tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động với các cấp ủy và chính quyền; đồng thời nâng cao chất lượng đối thoại và thương lượng tập thể. Kết quả, đã có 80,42% bản thỏa ước lao động tập thể được ký kết với nhiều điều khoản có lợi hơn cho người lao động như tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động, an toàn, vệ sinh lao động, điều kiện làm việc, bữa ăn giữa ca...

Các chính sách phúc lợi đoàn viên trở thành điểm tựa thiết thực cho hàng triệu người lao động. Chương trình “Mái ấm Công đoàn”, “Tết Sum vầy”, “Tháng Công nhân” được triển khai sâu rộng; đã hình thành và triển khai một số mô hình mới về chăm lo, thu được kết quả tích cực, tiêu biểu như “Bữa cơm công đoàn. Qua 2 năm tổ chức (2024, 2025), đã có hơn 20 nghìn công đoàn cơ sở tổ chức “Bữa cơm Công đoàn” với sự tham dự của hơn 5 triệu đoàn viên. Có gần 23 triệu lượt đoàn viên, người lao động được chăm lo trong dịp Tết Nguyên đán với tổng số tiền gần 15 nghìn tỷ đồng. 

Năm là, Công đoàn Việt Nam tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; phát huy vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân trong liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đồng thời thúc đẩy quá trình “trí thức hóa” công nhân. Qua đó, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và tư duy sáng tạo của công nhân, góp phần xây dựng lực lượng lao động hiện đại, năng động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2023-2025, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trao 1.457 Bằng lao động sáng tạo cho các cá nhân tiêu biểu, xuất sắc.

Theo nhận định của đồng chí, đâu là những thách thức lớn hiện nay đối với tổ chức Công đoàn và công nhân?

Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, thực tiễn cho thấy, nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vẫn đứng trước nhiều thách thức, đó là:

Thứ nhất, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa theo kịp yêu cầu của mô hình tăng trưởng và chiến lược phát triển đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực công nhân còn hạn chế; cơ cấu lao động kỹ thuật mất cân đối, thiếu hụt lực lượng công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật cao và công nhân có năng lực làm chủ công nghệ hiện đại. Lực lượng công nhân trẻ đông nhưng thiếu ổn định, tuổi nghề ngắn, nguy cơ dịch chuyển sang khu vực phi chính thức ngày càng nhiều, làm suy giảm tính bền vững của giai cấp công nhân trong dài hạn.

Thứ hai, những bất cập kéo dài trong phân phối lợi ích và bảo đảm an sinh xã hội làm suy giảm động lực phấn đấu của công nhân. Việc làm chưa bền vững; tiền lương tối thiểu chưa đủ sống; chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động và giữa các khu vực còn lớn. Hệ thống phúc lợi xã hội, nhất là nhà ở, nhà gửi trẻ, cơ sở y tế và nơi học tập, sinh hoạt văn hóa tinh thần còn thiếu, làm gia tăng phân hóa trong nội bộ giai cấp công nhân và tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định trong quan hệ lao động.

Thứ ba, mô hình quản trị nhân lực chậm đổi mới, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Cường độ lao động cao, thời giờ làm việc kéo dài vẫn phổ biến, trong khi việc đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực chưa tương xứng. Điều này hạn chế khả năng tái tạo sức lao động, học tập nâng cao kỹ năng và chăm lo đời sống toàn diện của công nhân, ảnh hưởng lâu dài đến sức cạnh tranh quốc gia.

Thứ tư, công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận về giai cấp công nhân chưa đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới. Nhiều vấn đề mới nảy sinh chưa được luận giải đầy đủ; chưa hình thành được các chủ trương, chính sách đột phá trong xây dựng giai cấp công nhân.

Thứ năm, ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị và hiểu biết pháp luật của một bộ phận công nhân còn hạn chế; công tác phát hiện, bồi dưỡng công nhân ưu tú để đào tạo, bố trí vào hệ thống chính trị còn bất cập. Hoạt động công đoàn, nhất là ở doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều khó khăn; việc  pháp luật cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có nguy cơ bị lợi dụng để chia rẽ giai cấp công nhân đặt ra những thách thức mới đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Thưa đồng chí, để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN sẽ đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nào?

Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, Tổng LĐLĐVN đề xuất với Trung ương Đảng và Đại hội 5 nội dung chính.

Một là, ban hành chiến lược xây dựng giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể hóa định hướng xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, gắn với sự phát triển của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo. Chú trọng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động để giai cấp công nhân Việt Nam thích ứng, phát triển, làm chủ tri thức, công nghệ, hội nhập quốc tế và phát huy sáng kiến, đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên phát triển mới.

Hai là, đảm bảo phân phối hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và xã hội mà nền tảng là ban hành quy định về mức sống tối thiểu thay cho tiền lương tối thiểu. Cần mở rộng hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội, quan tâm tới bảo hiểm xã hội, nhà ở, nhà trẻ, mẫu giáo, y tế, giáo dục và đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, khuyến khích chia sẻ lợi ích công bằng, tạo việc làm bền vững, tiền lương đủ sống và đầu tư cho phát triển con người.

Ba là, nghiên cứu giảm thời giờ làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động, gắn với nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là nhu cầu chính đáng giúp công nhân tái tạo sức lao động, chăm lo đời sống tinh thần, chăm sóc gia đình, con cái, đồng thời có thêm điều kiện học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, thúc đẩy năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế, qua đó khẳng định vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Bốn là, chú trọng hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về xây dựng giai cấp công nhân. Chỉ đạo toàn hệ thống chinh trị tổng kết 20 năm triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, trên cơ sở đó hình thành chủ trương mới lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, trong trong kỷ nguyên phát triển mới. 

Năm là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp, ủng hộ của Nhà nước và hệ thống chính trị để phát huy vai trò của Công đoàn Việt Nam trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh. Hoàn thiện cơ chế, chủ động đấu tranh, ngăn chặn việc lợi dụng quyền thành lập tổ chức của người lao động để chia rẽ giai cấp công nhân, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và Công đoàn. Quan tâm thúc đẩy kết nạp đoàn viên công đoàn ưu tú vào Đảng, nhất là tại các doanh nghiệp chưa có tổ chức cơ sở đảng.

Với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và thành công tốt đẹp của Đại hội XIV, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống vẻ vang, tinh thần tiên phong cách mạng, vững bước tiến lên dưới lá cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết tâm nỗ lực không ngừng, chủ động, sáng tạo sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống; cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chung sức, đồng lòng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn đồng chí Nguyễn Đình Khang - Chủ tịch Tổng LĐLĐVN.

Từ khoá:

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...