Hà Nội
Thứ 2, 31/08/2026
Nhiều mây
24°C

GIÁO DỤC NHỮNG CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO CHO KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI?

3:12
Sáng 25/8/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan liên quan về đánh giá kết quả một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
25/8/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan liên quan về đánh giá kết quả một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.


      Sau một năm, nhiều chủ trương, chính sách và điều kiện cho đột phá giáo dục đã được triển khai. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng thẳng thắn chỉ rõ: một năm qua chủ yếu mới tạo nền tảng, mở đường và tạo điều kiện cho đột phá; những chuyển biến về chất lượng giáo dục, người thầy, người học và chất lượng nguồn nhân lực chưa thật sự rõ nét; nhiều tồn tại, hạn chế kéo dài chưa được khắc phục.

       Chính trong bối cảnh ấy, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mục tiêu cuối cùng của giáo dục không phải là điểm số, bằng cấp hay thứ hạng của nhà trường, mà là giáo dục được những con người như thế nào”.

      Đó không chỉ là câu hỏi về mục tiêu của ngành giáo dục. Sâu xa hơn, đó còn là câu hỏi về tương lai phát triển đất nước: Việt Nam cần chuẩn bị những con người như thế nào cho kỷ nguyên phát triển mới?

      1. CON NGƯỜI LÀ ĐÍCH ĐẾN – ĐẶT LẠI THƯỚC ĐO THÀNH CÔNG CỦA GIÁO DỤC

      Nói mục tiêu cuối cùng của giáo dục không phải là điểm số, bằng cấp hay thứ hạng không có nghĩa phủ nhận những thước đo đó. Không một nền giáo dục hiện đại nào có thể vận hành mà thiếu chuẩn mực, kiểm tra và đánh giá. Vấn đề là đặt chúng vào đúng vị trí: con người là đích đến; điểm số, bằng cấp, thứ hạng là thước đo; chương trình, phương pháp và công nghệ là phương tiện phục vụ sự phát triển con người.

     Giáo dục Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Theo PISA 2022 do OECD công bố, 72% học sinh Việt Nam đạt ít nhất mức năng lực 2 về toán, 77% về đọc hiểu và 79% về khoa học. Đây là những kết quả cho thấy nền tảng giáo dục phổ thông đáng ghi nhận, dù OECD lưu ý cần thận trọng khi so sánh quốc tế đối với kết quả đọc hiểu của Việt Nam.

      Tuy nhiên, ở nhóm năng lực cao, dư địa cải thiện còn lớn. OECD cho biết khoảng 5% học sinh Việt Nam đạt mức 5–6 về toán, so với 9% trung bình OECD; đọc hiểu mức cao khoảng 1%, khoa học khoảng 2%. Những con số này không phủ nhận thành tựu, mà cho thấy trên nền tảng đã đạt được, giáo dục Việt Nam cần bước lên một tầng phát triển cao hơn: không chỉ giúp người học nắm kiến thức mà phải tăng mạnh khả năng vận dụng, giải quyết vấn đề, tư duy độc lập, sáng tạo và tự học.

GIÁO DỤC NHỮNG CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO CHO KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI?
Trung tướng , PGS.TS Đồng Đại Lộc:  Giáo dục con người là chuẩn bị tương lai cho đất nước

      Bởi vậy, điều cần thay đổi không phải là xóa bỏ điểm số hay bằng cấp, mà từ chỗ chủ yếu hỏi “người học đạt bao nhiêu điểm?” phải đồng thời trả lời những câu hỏi quan trọng hơn: người học thực sự làm được gì, nó trở thành người như thế nào và có khả năng tiếp tục phát triển ra sao?

      2. GIÁO DỤC CON NGƯỜI TOÀN DIỆN – CÓ “GỐC” ĐỂ ĐỨNG VỮNG, CÓ “CÁNH” ĐỂ ĐI XA

      Trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, con người mà giáo dục cần hướng tới được đặt trong một chỉnh thể: đức – trí – thể – mỹ; đạo đức, nhân cách, sức khỏe thể chất và tinh thần, văn hóa, lịch sử, nghệ thuật; đồng thời chú trọng ngoại ngữ, STEM, năng lực số, tư duy khoa học, sáng tạo và khả năng thích ứng.

GIÁO DỤC NHỮNG CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO CHO KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI?
Ảnh minh hoạ

      Có thể khái quát những yêu cầu ấy bằng hai phương diện “gốc” và “cánh”. “Gốc” là lòng yêu nước, nhân cách, đạo đức, trách nhiệm, văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc và sức khỏe thể chất, tinh thần. “Cánh” là tri thức, khoa học, STEM, ngoại ngữ, năng lực số và AI, tư duy phản biện, sáng tạo, khả năng thích ứng và học tập suốt đời.

      Hai phương diện ấy không thể thay thế nhau. Một người trẻ có thể sử dụng thành thạo AI nhưng thiếu khả năng phán đoán đúng – sai, thiếu trách nhiệm và nền tảng văn hóa thì chưa thể coi là kết quả đầy đủ của giáo dục toàn diện. Ngược lại, trong một thế giới cạnh tranh ngày càng mạnh bằng tri thức và công nghệ, lòng yêu nước, trách nhiệm và khát vọng cống hiến phải được chuyển hóa thành năng lực học tập, lao động, khoa học và sáng tạo.

      Theo Báo cáo Tương lai việc làm 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, khoảng 39% kỹ năng hiện có của người lao động được dự báo sẽ thay đổi hoặc trở nên lỗi thời trong giai đoạn đến năm 2030. Những kỹ năng ngày càng quan trọng không chỉ có AI, dữ liệu lớn và năng lực công nghệ mà còn gồm tư duy sáng tạo, tư duy phân tích, khả năng thích ứng, tính bền bỉ và học tập suốt đời.

      Điều đó cho thấy kỷ nguyên công nghệ không làm giảm yêu cầu giáo dục con người toàn diện. Trái lại, công nghệ càng mạnh thì bản lĩnh, nhân cách, khả năng thích ứng, năng lực làm chủ công nghệ và trách nhiệm của con người càng trở nên quan trọng.

      Có “gốc” để biết mình là ai; có “cánh” để có khả năng đi xa trong một thế giới đang thay đổi.

       3. “ĐẶT CÔNG NGHỆ ĐÚNG VỊ TRÍ” – KHI AI BIẾT TRẢ LỜI, CON NGƯỜI CÀNG PHẢI BIẾT SUY NGHĨ

      Một nội dung đáng chú ý trong chỉ đạo của Tổng Bí thư là yêu cầu “đặt công nghệ đúng vị trí”: công nghệ phục vụ giáo dục, không thay thế bản chất của giáo dục; không để AI trở thành công cụ làm thay việc suy nghĩ của người học.

      AI ngày nay có thể tìm kiếm thông tin, dịch văn bản, giải toán, tổng hợp tài liệu, xây dựng lập luận và tạo ra câu trả lời trong thời gian rất ngắn. Nếu giáo dục vẫn chủ yếu yêu cầu người học ghi nhớ và tái hiện thông tin thì những năng lực quan trọng hơn của con người rất dễ bị xem nhẹ.

       UNESCO, trong Khung năng lực AI cho học sinh, xác định 12 năng lực thuộc bốn chiều cạnh: tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kỹ thuật và ứng dụng AI, thiết kế hệ thống AI; được phát triển qua ba cấp độ hiểu, vận dụng và sáng tạo. Đáng chú ý, UNESCO nhấn mạnh khả năng đánh giá phê phán các giải pháp AI và trách nhiệm của người sử dụng.

       Cách tiếp cận ấy cho thấy giáo dục AI không thể giản lược thành dạy cách sử dụng công cụ. Giáo dục phải giúp người học hình thành một chuỗi năng lực mới: biết đặt câu hỏi – biết sử dụng AI – biết kiểm chứng – biết phản biện – biết sáng tạo – biết chịu trách nhiệm.

       AI không làm mất nhu cầu tư duy; nó làm thay đổi nơi và cách con người phải tư duy. Khi máy ngày càng giỏi tạo ra câu trả lời, con người càng phải biết đánh giá câu trả lời ấy đúng hay sai, đáng tin cậy hay không, phù hợp hay không và phải chịu trách nhiệm về quyết định cuối cùng.

       Điều đó cũng làm thay đổi vai trò người thầy. Khi kiến thức ngày càng dễ tiếp cận, người thầy phải chuyển mạnh hơn từ truyền đạt kiến thức sang dẫn dắt tư duy, phát hiện tiềm năng, tổ chức học tập, truyền cảm hứng và góp phần hình thành nhân cách.

       4. “TỰ ĐỔI MỚI MẠNH MẼ” – MUỐN TẠO RA CON NGƯỜI MỚI, GIÁO DỤC PHẢI ĐỔI MỚI THỰC CHẤT

       Đánh giá sau một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW cho thấy nhiều công việc đã được triển khai, những nền tảng quan trọng đã được tạo ra, nhưng chuyển biến về chất lượng giáo dục, người thầy, người học và chất lượng nguồn nhân lực chưa thật sự rõ nét. Tổng Bí thư vì thế yêu cầu phải tạo một cuộc đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục.

       Điều đó đòi hỏi không chỉ tiếp tục hoàn thiện chính sách mà phải chuyển mạnh sang tổ chức thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ ai chịu trách nhiệm, làm gì, hoàn thành khi nào, nguồn lực ở đâu, sản phẩm và kết quả cuối cùng là gì. Thước đo cuối cùng không phải có thêm bao nhiêu chương trình, đề án, mà những thay đổi ấy đã tác động như thế nào tới người thầy và người học.

      Nếu thay đổi mục tiêu giáo dục nhưng giữ nguyên cách đánh giá thành công thì rất khó tạo chuyển biến. Muốn người học sáng tạo nhưng kiểm tra chủ yếu khả năng ghi nhớ; muốn tư duy độc lập nhưng chỉ tìm một đáp án mẫu; muốn giáo dục toàn diện nhưng những chỉ tiêu dễ lượng hóa vẫn chi phối mạnh việc đánh giá thì giữa mục tiêu và động lực vận hành của hệ thống sẽ luôn tồn tại khoảng cách.

       Những chuyển động chính sách gần đây cho thấy hướng thay đổi đang rõ hơn. Quy định mới về đánh giá diện rộng quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông chú trọng hơn phẩm chất và năng lực thực hiện của học sinh. Năm học 2026–2027 cũng đặt yêu cầu xây dựng văn hóa trung thực, liêm chính, thực chất; khắc phục bệnh thành tích và đánh giá thực chất năng lực người học.

      Thay đổi thước đo vì vậy không đơn thuần là đổi kỹ thuật kiểm tra. Sâu hơn, đó còn là thay đổi động lực vận hành của hệ thống: đổi thước đo – đổi động lực – đổi hành vi – đổi kết quả.

      Cùng với đổi mới đánh giá phải đổi mới quản trị nhà trường, bảo đảm điều kiện và không gian chuyên môn để người thầy sáng tạo; sử dụng dữ liệu giáo dục để phát hiện vấn đề và ra quyết định tốt hơn; tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

       Muốn tạo ra những con người có khả năng đổi mới, trước hết chính hệ thống giáo dục phải có khả năng tự đổi mới.

       5. GIÁO DỤC PHẢI “ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC” – TỪ NĂNG LỰC CON NGƯỜI ĐẾN NĂNG LỰC QUỐC GIA

      Tổng Bí thư yêu cầu giáo dục phải “đi trước một bước” để chuẩn bị nguồn nhân lực và nhân tài cho tương lai. Đây chính là tầng chiến lược của câu hỏi “giáo dục được những con người như thế nào?”.

      Theo Cục Thống kê, sáu tháng đầu năm 2026, Việt Nam có khoảng 53,7 triệu người trong lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt 29,7%. Trong khi đó, các lĩnh vực có ý nghĩa ngày càng lớn đối với sức cạnh tranh của đất nước đang đặt ra nhu cầu rất cao về nhân lực mới.

      Một ví dụ điển hình là công nghiệp bán dẫn. Chương trình phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực trình độ từ đại học trở lên, trong đó ít nhất 15.000 nhân lực cho công đoạn thiết kế và 5.000 nhân lực có chuyên môn sâu về AI phục vụ ngành bán dẫn.

      Những mục tiêu đó cho thấy “đi trước một bước” phải được hiểu rất cụ thể. Không thể chờ các ngành công nghệ chiến lược phát triển đầy đủ mới bắt đầu chuẩn bị con người. Giáo dục phải dự báo nhu cầu nhân lực, điều chỉnh cơ cấu đào tạo và chuẩn bị những năng lực mà nền kinh tế, khoa học và xã hội sẽ cần trong tương lai.

      Đặc biệt, như Tổng Bí thư đặt ra, cần kết nối chặt chẽ chuỗi dự báo nhu cầu nhân lực – tuyển sinh – đào tạo – nghiên cứu – doanh nghiệp – việc làm. Xa hơn, cần nối tiếp với sử dụng, trọng dụng và đào tạo lại. Giáo dục không thể kết thúc khi một người nhận bằng. Khi công nghệ và nghề nghiệp thay đổi nhanh, khả năng học tập suốt đời trở thành một năng lực thiết yếu.

      Một đất nước có nhiều người đi học chưa tự động trở thành quốc gia có nguồn nhân lực mạnh. Năng lực của mỗi người mới là tiềm năng. Khả năng phát hiện, phát triển, kết nối và chuyển năng lực của hàng triệu con người thành tri thức, khoa học, công nghệ, năng suất, sản phẩm và giá trị xã hội mới thực sự tạo nên năng lực quốc gia.

       GIÁO DỤC CON NGƯỜI LÀ CHUẨN BỊ TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC

      Trở lại câu hỏi Tổng Bí thư đặt ra: giáo dục được những con người như thế nào?

Điểm số cần. Bằng cấp cần. Chuẩn mực và thứ hạng cần. Khoa học, công nghệ và AI càng không thể đứng ngoài giáo dục của tương lai. Nhưng tất cả phải được đặt đúng vị trí: con người là đích đến; những yếu tố còn lại là phương tiện và thước đo phục vụ sự phát triển con người.

      Hiện thực hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư vì thế không chỉ là công việc của ngành giáo dục. Đó là trách nhiệm của Nhà nước, nhà trường, người thầy, gia đình, doanh nghiệp, xã hội và chính mỗi người học.

      Một đất nước muốn đi tới đâu phải chuẩn bị được những con người có khả năng đưa đất nước tới đó. Những con người mà nền giáo dục Việt Nam góp phần hình thành hôm nay sẽ quyết định một phần rất quan trọng năng lực, sức cạnh tranh, bản lĩnh và vị thế của Việt Nam ngày mai.

Tin liên quan
Từ khoá:

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...