Hà Nội
Chủ nhật, 15/03/2026
Nhiều mây
24°C

80 năm với 15 khóa Quốc hội

15/03/2026 00:29
3:12
Quốc hội Việt Nam ra đời cùng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Từ đó đến nay, Quốc hội nước ta đã trải qua 15 cuộc bầu cử, mỗi cuộc bầu cử diễn ra trong những bối cảnh lịch sử khác nhau nhưng đều phản ánh rõ ý chí, nguyện vọng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của Quốc hội trong hệ thống chính trị và trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khóa I (1946-1960)

Quốc hội khóa đầu tiên được bầu ngày 6 tháng 1 năm 1946, gồm 403 đại biểu, trong đó, 333 đại biểu được bầu; 70 ghế theo đề nghị của Hồ Chí Minh (dành cho người của Việt Nam Quốc dân Đảng 50 ghế và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội 20 ghế). Những đại biểu không qua bầu cử được gọi là đại biểu "truy nhận".

80 năm với 15 khóa Quốc hội

Kỳ họp thứ nhất (2 tháng 3 năm 1946) công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Kháng chiến ủy viên hội do Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch, Vĩnh Thụy làm Cố vấn tối cao, Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 thành viên.

Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) ngày 9 tháng 11 năm 1946; thông qua Hiến pháp sửa đổi (Hiến pháp 1959) ngày 31 tháng 12 năm 1959.

Ban hành sắc lệnh cải cách ruộng đất và phê chuẩn Hiệp định Geneva.

Tuy lúc đầu Quốc hội có 403 đại biểu nhưng đến kỳ họp mùa thu năm 1946, đại biểu chỉ còn 291, khi mãn khóa chỉ còn 242 vì hầu hết các đại biểu đối lập thuộc Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc) đã bỏ chạy sang Hoa Nam khi không còn sự hậu thuẫn về quân sự và chính trị của quân đội Trung Hoa Dân quốc sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946.

Khóa II (1960-1964)

Bầu ngày 8 tháng 5 năm 1960, gồm 453 đại biểu (362 đại biểu được bầu, 91 đại biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm).

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 6 đến 15 tháng 7 năm 1960) bầu Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 21 ủy viên chính thức, 5 ủy viên dự khuyết.

Khóa III (1964-1971)

Bầu ngày 26 tháng 4 năm 1964, gồm 453 đại biểu, trong đó, 366 đại biểu được bầu, 87 đại biểu khóa I của Miền Nam được lưu nhiệm.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 25 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1964) bầu Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 23 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết.

Khóa IV (1971-1975)

Bầu ngày 11 tháng 4 năm 1971 gồm 420 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 6 năm 1971) bầu Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 24 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết.

Khóa V (1975-1976)

Bầu ngày 6 tháng 4 năm 1975 gồm 424 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 6 năm 1975) bầu Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 19 ủy viên chính thức, 3 ủy viên dự khuyết.

Khóa VI (1976-1981)

Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất bầu ngày 25 tháng 4 năm 1976 gồm 492 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976) bầu Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng và Nguyễn Hữu Thọ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cũng tại kỳ họp này, ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 21 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết.

Thông qua Hiến pháp 1980 tại kỳ họp thứ 7, ngày 18 tháng 12 năm 1980.

80 năm với 15 khóa Quốc hội

Khóa VII (1981-1987)

Bầu ngày 26 tháng 4 năm 1981 gồm 496 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 4 tháng 7 năm 1981) bầu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng.

Hội đồng Nhà nước gồm 12 thành viên, đảm nhận chức năng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội.

Khóa VIII (1987-1992)

Bầu ngày 19 tháng 4 năm 1987 gồm 496 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 6 năm 1987) bầu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.

Hội đồng Nhà nước gồm 15 thành viên.

Thông qua Hiến pháp 1992 tại kỳ họp thứ 11, ngày 15 tháng 4 năm 1992.

Khóa IX (1992-1997)

Bầu ngày 19 tháng 7 năm 1992 gồm 395 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 19 tháng 9 đến ngày 8 tháng 10 năm 1992) bầu Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Tại khóa này Quốc hội đã quyết định trở lại mô hình Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 13 ủy viên. 

Khóa X (1997-2002)

Bầu ngày 20 tháng 7 năm 1997 gồm 450 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 20 đến ngày 29 tháng 9 năm 1997) bầu Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Thủ tướng Phan Văn Khải.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 8 ủy viên.

Khóa XI (2002-2007)

Hội trường Ba Đình - nơi diễn ra các kỳ họp quốc hội cho đến năm 2007, bầu ngày 19 tháng 5 năm 2002 gồm 498 đại biểu.

Kỳ họp thứ nhất (từ ngày 19 tháng 7 đến ngày 12 tháng 8 năm 2002) bầu Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa và Thủ tướng Phan Văn Khải.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 9 ủy viên. 

Kỳ họp thứ 9 (đến ngày 29 tháng 6 năm 2006) bầu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. 

 Khóa XII (2007-2011)

Bầu ngày 20 tháng 5 năm 2007 gồm 493 đại biểu. Quốc hội khoá XII rút ngán thời gian hoạt động 1 năm để tiến hành bàu cử Quốc hội khoá XIII cho cùng thời gian với cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp năm 2011.

Bầu cử Quốc hội khóa XIII (Ngày 22/5/2011, nhiệm kỳ 2011 – 2016)

Ngày 22/5/2011, cử tri cả nước tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Đây là lần đầu tiên người dân đi bầu đồng thời các cơ quan dân cử ở 4 cấp: Quốc hội, HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu đạt 99,51%, với 500 đại biểu Quốc hội trúng cử.

Bầu cử Quốc hội khóa XIV (Ngày 22/5/2016, nhiệm kỳ 2016 – 2021)

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021 diễn ra ngày 22/5/2016, thu hút hơn 67 triệu cử tri tham gia, đạt tỷ lệ 99,35%.

Nhân dân đã lựa chọn 494 đại biểu tiêu biểu về phẩm chất, năng lực và uy tín.

80 năm với 15 khóa Quốc hội

Bầu cử Quốc hội khóa XV (Ngày 23/5/2021, nhiệm kỳ 2021 – 2026)

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 diễn ra ngày 23/5/2021 trong bối cảnh cả nước phòng, chống đại dịch COVID-19.

Hơn 69 triệu cử tri đã tham gia bỏ phiếu, bầu 499 đại biểu Quốc hội khóa XV, với tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 99,60%.

Tin liên quan
Quy trình bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND nhiệm kỳ 2026 – 2031 được triển khai theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Các bước hiệp thương, cơ cấu, thành phần, số lượng người ứng cử được quy định chặt chẽ, tạo nền tảng cho việc lựa chọn những đại biểu xứng đáng.
Cuộc thi sáng tác tranh cổ động tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 do Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch phát động nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, phổ biến sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc bầu cử…
Ngày 19/2, Công an tỉnh Điện Biên tổ chức ra quân tăng cường về cơ sở, đảm bảo an ninh trật tự năm 2016, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016- 2021.
Từ khoá:

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...