Tín dụng hỗ trợ cho tăng trưởng
Trước những thách thức này, hệ thống ngân hàng vẫn duy trì được sự ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Đồng thời, hành lang pháp lý cho xử lý nợ xấu và tổ chức tín dụng yếu kém được củng cố, chuẩn an toàn vốn được nâng lên tiệm cận thông lệ quốc tế, trong khi công tác quản lý thị trường vàng và phòng, chống gian lận trong thanh toán được siết chặt, tạo nên những điểm nhấn đáng chú ý của ngành trong năm qua.
Điều hành tăng trưởng tín dụng năm 2025 tiếp tục cho thấy vai trò trung tâm của Ngân hàng Nhà nước trong việc cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát rủi ro lạm phát.

Đủ vốn cho nền kinh tế. Ảnh Trọng Triết
Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống là khoảng 16% để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP 8%. Ngày 31/7/2025, Ngân hàng Nhà nước thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 đối với các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tăng khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với nhu cầu thực tế của nền kinh tế.
Theo Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đã vượt mốc 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 16,56% so với cuối năm trước. Con số này cho thấy dòng vốn vẫn đang được “bơm” mạnh mẽ vào nền kinh tế, với quy mô gần gấp đôi so với đầu giai đoạn trước.
Đáng chú ý, điểm khác biệt nằm ở sự chuyển dịch cơ cấu. Thay vì dàn trải, dòng vốn tín dụng đang được “nắn” vào các lĩnh vực then chốt. Cụ thể, tín dụng cho doanh nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng, đạt bình quân từ 17,5% đến gần 20%. Các chương trình đặc thù, như: gói tín dụng nông, lâm, thủy sản đã được nâng quy mô lên 185.000 tỷ đồng (gấp 4 lần ban đầu) với tỷ lệ giải ngân thực tế đạt tới 94%.
Cùng với nguồn vốn khác, vốn tín dụng ngân hàng đã góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu đề ra. Theo Báo cáo từ Bộ Tài chính cho thấy, tăng trưởng GDP năm 2025 ước đạt khoảng 8%, GDP bình quân đầu người ước đạt 5.000 USD, tăng 1,4 lần so với năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Thu ngân sách nhà nước đến giữa tháng 12/2025 đạt khoảng 2,47 triệu tỷ đồng, vượt hơn 25% dự toán. Lạm phát khoảng 3,5%. Kim ngạch xuất - nhập khẩu ước đạt trên 920 tỷ USD, xuất siêu hơn 21 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 32% GDP.
Đảm bảo an toàn ngân hàng
Việc cấp thiết củng cố bộ đệm vốn đang trở thành ưu tiên chiến lược của hệ thống ngân hàng. Tăng trưởng tín dụng mạnh trong năm 2025 như đang khiến tài sản có rủi ro gia tăng, gây thêm áp lực lên nguồn vốn, đặc biệt khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) toàn hệ thống ngân hàng của Việt Nam (12,5%) vẫn thấp hơn mặt bằng khu vực ASEAN (20,5%). Đồng thời, xu hướng cho vay vào các lĩnh vực rủi ro cao, như: bất động sản và chứng khoán tiếp tục tăng, càng thúc đẩy nhu cầu nâng cao năng lực vốn để đảm bảo ổn định hệ thống. Bên cạnh đó, lộ trình gỡ bỏ hạn mức tín dụng (room tín dụng) nếu thiếu các công cụ giám sát an toàn vĩ mô chặt chẽ có thể dẫn tới tăng trưởng tín dụng quá mức, làm gia tăng rủi ro hệ thống và áp lực lạm phát.
Trong bối cảnh này, củng cố vốn không còn là mục tiêu trung hạn mà là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao khả năng chống chịu và đảm bảo tăng trưởng bền vững cho hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước đã chủ động định hướng dòng tín dụng vào các lĩnh vực có rủi ro thấp hơn, như: nông nghiệp, hạ tầng, công nghệ, nhằm đảm bảo cơ cấu tín dụng lành mạnh hơn. Bên cạnh đó, Thông tư 14/2025/NHNN, ban hành vào tháng 7/2025, là nỗ lực của cơ quan quản lý trong việc củng cố CAR và quản trị rủi ro.
Thông tư 14 được kỳ vọng sẽ điều chỉnh quy định về CAR của hệ thống ngân hàng Việt Nam theo chuẩn Basel III, với các tiêu chí chặt chẽ hơn về thành phần vốn và chất lượng vốn; định hướng dòng tín dụng vào các lĩnh vực bền vững và lành mạnh, hạn chế mức độ tiếp xúc quá lớn với các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản; và hỗ trợ quá trình chuyển đổi dần từ cơ chế “room tín dụng” sang khuôn khổ giám sát dựa trên thị trường và rủi ro.
Riêng quy định về CAR tối thiểu, về cơ bản Thông tư 14/2025 thể hiện bước chuyển mang tính cấu trúc từ Basel II sang Basel III, với mục tiêu nâng cao chất lượng vốn, quản trị rủi ro và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. CAR tối thiểu đóng vai trò nền tảng, đảm bảo các ngân hàng có đủ năng lực tài chính để “hấp thụ” tổn thất phát sinh từ rủi ro tín dụng, hoạt động và thị trường. Việc duy trì mức vốn tối thiểu không chỉ giúp ngân hàng bù đắp các khoản lỗ tiềm ẩn mà còn củng cố niềm tin của khách hàng và nhà đầu tư.
Thông tư 14 không chỉ nâng CAR tối thiểu mà còn bổ sung nhiều yêu cầu vốn tiến bộ khác, hướng hệ thống ngân hàng Việt Nam tiệm cận hơn với chuẩn Basel III, đặc biệt trong quản trị rủi ro và chất lượng vốn.
Phần lớn các ngân hàng Việt Nam hiện nay đã đáp ứng các yêu cầu CAR tối thiểu của Basel III, trong đó nhóm ngân hàng tư nhân niêm yết, như: TCB, HDB và TPB đang dẫn đầu về CAR. Các ngân hàng này thường có mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn, do tỷ lệ cho vay bất động sản và tiêu dùng lớn hơn. Do vậy, áp lực tăng vốn nhiều khả năng sẽ gia tăng nhiều hơn ở nhóm ngân hàng quốc doanh, như: VCB, BID, CTG do CAR của các ngân hàng này đang thấp hơn so với nhóm ngân hàng tư nhân, dù các ngân hàng này đang nắm giữ thị phần lớn nhất về tín dụng và tiền gửi. Với nhóm này, vấn đề tăng vốn đang nổi lên như một yêu cầu cấp thiết.
Ngoài ra, những ngân hàng tư nhân có mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao như HDB, MBB… cũng sẽ có động lực tăng vốn trong trung và dài hạn để vừa đáp ứng nhu cầu phát triển tín dụng hỗ trợ kinh tế, đồng thời giúp linh hoạt hơn trong việc sử dụng và điều tiết vốn nhằm mang lại kết quả kinh doanh tốt hơn cho từng ngân hàng. Hệ quả của điều này có thể sẽ mở ra “cuộc đua tăng vốn” trong giai đoạn tới đây của ngành ngân hàng.
Động lực tăng trưởng tín dụng 2026
Với mục tiêu tham vọng tăng trưởng kinh tế hai con số từ năm 2026, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang tập trung nguồn lực mạnh mẽ ở cả chính sách tiền tệ lẫn tài khóa để thúc đẩy. Chương trình 500.000 tỷ đồng là quy mô của chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược trong giai đoạn tới, với sự tham gia của 23 ngân hàng thương mại, theo thông tin Ngân hàng Nhà nước chia sẻ mới đây. Lãi suất cho vay ưu đãi của gói tín dụng này sẽ thấp hơn tối thiểu từ 1 -1,5%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay là sự kết hợp chặt chẽ, khi các doanh nghiệp có thể vừa tận dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước phục vụ đầu tư công, vừa có khả năng tiếp cận dòng vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng với lãi suất ưu đãi để triển khai các dự án cơ sở hạ tầng.
Trong khi nhà điều hành xem nới lỏng chính sách tiền tệ, thể hiện qua mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao với các gói kích thích tín dụng “khủng”, là yếu tố cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, thì về phía các doanh nghiệp, khi nhìn vào triển vọng tăng trưởng kinh tế cao lại càng có động lực vay thêm vốn ngân hàng để mở rộng đầu tư, sản xuất kinh doanh.
Theo PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Phó Giám đốc Phụ trách Ban điều hành Học viên Ngân hàng chia sẻ, các chính sách thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng có thể mang đến hiệu ứng “bội số tín dụng” vượt trội, khi một dòng vốn đầu tư công có thể kéo hàng loạt dòng vốn đầu tư khác, từ vốn tín dụng ngân hàng, vốn tự có của các doanh nghiệp tham gia các dự án, vốn nhà thầu, vốn chuỗi cung ứng...
Với mảng tín dụng bán lẻ, các hoạt động chuyển đổi số, chấm điểm tín dụng số qua nguồn dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo được kỳ vọng giúp giảm chi phí thẩm định, rút ngắn thời gian cho vay, cũng như mang đến khả năng tiếp cận các nhóm khách hàng đa dạng hơn.
Mặt khác, nhiều ngân hàng đã triển khai quy trình cho vay trực tuyến lên App, từ các bước eKYC, chấm điểm, phê duyệt trực tuyến cho đến ký số và giải ngân, đặc biệt ở các sản phẩm tín chấp cá nhân và nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, theo đó các khoản vay nhỏ lẻ này sẽ xuất hiện đúng lúc khách cần - khi mua xe máy, các thiết bị điện tử, thanh toán hóa đơn lớn, tín dụng theo dòng tiền bán hàng trên các nền tảng trực tuyến./.
Bình luận bài viết