Chính sách người có công không chỉ là vấn đề pháp lý
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Tiến Đạo, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ, Bộ Nội vụ, thay mặt cơ quan quản lý nhà nước đánh giá cao việc tổ chức Hội thảo, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc đưa Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16 vào thực tiễn.

Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 8/7/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2027. Pháp lệnh được ban hành nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu tổ chức bộ máy mới.
Theo các nội dung được trao đổi tại Hội thảo, mục tiêu xuyên suốt của chính sách là bảo đảm người có công và gia đình người có công có mức sống từ trung bình khá trở lên so với cộng đồng dân cư nơi cư trú; đồng thời tiếp tục mở rộng đối tượng, hoàn thiện điều kiện công nhận và nâng cao mức độ chăm sóc đối với người có công và thân nhân.
Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong phát biểu của Trung tướng Khuất Việt Dũng, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Theo ông, để Pháp lệnh mới thực sự đi vào cuộc sống, cần sớm xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành, kịp thời sửa đổi những quy định không còn phù hợp với tổ chức bộ máy mới và mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công nhận và thực hiện chính sách ưu đãi người có công.

Một trong những nội dung giàu ý nghĩa nhân văn tại Hội thảo là phần phát biểu của Trung tướng Trần Bá Thiều, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị Công an nhân dân (TC03), Bộ Công an, với chủ đề “Từ chính sách ưu đãi đến văn hóa tri ân”.
Theo Trung tướng Trần Bá Thiều, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trước hết là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, nhưng để chính sách ấy thực sự có sức sống lâu dài thì cần được chuyển hóa thành văn hóa tri ân trong toàn xã hội. Tri ân không chỉ dừng lại ở những chế độ, chính sách hay những hoạt động thăm hỏi, tặng quà vào các dịp lễ, Tết, mà phải trở thành một giá trị được nuôi dưỡng thường xuyên trong đời sống xã hội.
Từ góc nhìn đó, việc thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng cần được đặt trong mối quan hệ giữa trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm chính trị và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Mỗi chính sách được ban hành không chỉ nhằm bảo đảm quyền lợi vật chất cho người có công mà còn thể hiện sự ghi nhận của Tổ quốc đối với những đóng góp, hy sinh của họ.Hơn 9,2 triệu người có công đã được xác nhận
Theo nội dung phát biểu của lãnh đạo Bộ Nội vụ tại Hội thảo, cả nước hiện đã xác nhận hơn 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,2 triệu liệt sĩ, trên 650.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, trên 132.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và trên 320.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học.
Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, công tác “Đền ơn đáp nghĩa” tiếp tục được triển khai rộng khắp. Giai đoạn 2020-2025, Quỹ Đền ơn đáp nghĩa cả nước đã vận động hơn 3.000 tỷ đồng, xây mới gần 36.000 căn nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 31.000 căn và trao tặng hơn 57.000 sổ tiết kiệm.

Những kết quả đó cho thấy chính sách người có công ngày càng được quan tâm cả về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết, nhất là những hồ sơ tồn đọng, trường hợp thiếu giấy tờ, khó khăn trong xác minh nhân chứng và việc xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
“Trả lại tên cho các anh hùng, liệt sĩ”
Một trong những tham luận thu hút sự quan tâm tại Hội thảo là của Anh hùng Lao động, thương binh 1/4 Trần Hồng Quảng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp của Thương binh và Người khuyết tật Việt Nam.

Với tham luận “Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng – từ chính sách đền ơn đáp nghĩa đến trách nhiệm ‘trả lại tên cho các anh hùng, liệt sĩ’”, ông Trần Hồng Quảng cho rằng phía sau mỗi quy định pháp luật về người có công là một con người, một gia đình, một cuộc đời đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc.
Theo ông Trần Hồng Quảng, việc ban hành Pháp lệnh số 05/2026 cho thấy chính sách người có công không phải là chính sách đứng yên mà cần thường xuyên được rà soát, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn, với sự phát triển của đất nước và những mong muốn chính đáng của người có công, thân nhân của họ.
Đặc biệt, ông nhấn mạnh nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Theo ông, đây không chỉ là một chương trình công tác mà còn là cuộc chạy đua với thời gian và với sự lãng quên. Tìm kiếm hài cốt là đưa các anh trở về; xác định danh tính là trả lại tên cho các anh; công nhận liệt sĩ là trả lại sự ghi nhận của Tổ quốc đối với sự hy sinh ấy.
“Trả lại tên cho các anh hùng, liệt sĩ”, theo ông Trần Hồng Quảng, không chỉ là trả lại một cái tên cho người đã khuất mà còn là trả lại một phần ký ức, danh dự và lịch sử của dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Ông cũng đề nghị tiếp tục số hóa hồ sơ, dữ liệu, lời kể và tư liệu lịch sử; huy động nhân chứng còn sống; liên thông cơ sở dữ liệu về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, đơn vị chiến đấu, địa bàn chiến đấu, thân nhân và dữ liệu gene; đồng thời nghiên cứu cơ chế đánh giá tổng hợp nhiều nguồn chứng cứ trong những trường hợp đặc biệt.
Từ thực tiễn Nghệ An: Chính sách phải đến được từng gia đình
Từ góc độ địa phương, Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Hội, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Nghệ An, trình bày tham luận “Thực tiễn triển khai Pháp lệnh 05 tại Nghệ An: Nhìn từ góc độ thực tế và giải pháp phát huy giá trị nhân văn trong thời kỳ mới”.
Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Hội cho biết Nghệ An là địa phương có số lượng lớn người có công, với hơn 45.000 liệt sĩ, hơn 56.000 thương binh, bệnh binh, 2.825 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và hơn 124.000 người có công với cách mạng.
Từ thực tiễn cơ sở, ông chỉ ra những vấn đề còn tồn tại như hồ sơ, giấy tờ của một số trường hợp thiếu hoặc không thống nhất; chiến tranh đã lùi xa nhiều thập kỷ khiến nhiều đơn vị giải thể, sáp nhập, địa danh thay đổi, hồ sơ thất lạc, nhân chứng tuổi cao, sức yếu.
Do đó, việc thực hiện Pháp lệnh 05 cần đặc biệt quan tâm đến hướng dẫn, rà soát, xác minh và hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm vừa đúng quy định pháp luật vừa có tính nhân văn.
Một đề xuất đáng chú ý của Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Hội là chuyển từ cách làm “người dân có nhu cầu thì đến làm hồ sơ” sang “cơ sở chủ động phát hiện, hướng dẫn và đồng hành cùng người dân hoàn thiện hồ sơ theo đúng quy định”.
Ông cũng đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, ứng dụng công nghệ số trong quản lý chính sách, giảm thất lạc hồ sơ, hạn chế việc người dân phải cung cấp lại thông tin nhiều lần và nâng cao trách nhiệm của cơ quan giải quyết.
Báo chí phải là cầu nối đưa chính sách đến người dân
Một góc nhìn khác tại Hội thảo được Đại tá, Thạc sĩ Đỗ Phú Thọ, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Tổng Biên tập Báo Cựu chiến binh Việt Nam, đề cập trong tham luận “Phát huy vai trò của báo chí trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng”.

Theo Đại tá Đỗ Phú Thọ, báo chí giữ vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân trong tuyên truyền chính sách, pháp luật nói chung và pháp luật về ưu đãi người có công nói riêng. Báo chí không chỉ truyền tải quy định mới mà còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách và người có công; đồng thời giám sát việc thực hiện chính sách ở cơ sở.
Đại tá Đỗ Phú Thọ cho rằng cần đổi mới cách tuyên truyền, chuyển các quy định pháp luật khô khan thành những bài viết dễ hiểu, chuyên mục hỏi - đáp và câu chuyện thực tế; đồng thời tăng cường ứng dụng đa nền tảng, bám sát địa bàn cơ sở và nâng cao kiến thức pháp luật chuyên sâu cho đội ngũ nhà báo.
Đặc biệt, báo chí không chỉ có chức năng tuyên truyền mà còn phải tham gia phản biện chính sách, phát hiện những quy định chưa phù hợp với thực tế để góp phần hoàn thiện chính sách.
Hội Cựu chiến binh – lực lượng nòng cốt trong “Đền ơn đáp nghĩa”
Phát biểu tại Hội thảo, Trung tướng Khuất Việt Dũng, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của Hội Cựu chiến binh trong phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” và đóng góp xây dựng chính sách pháp luật về người có công.
Những năm qua, các cấp Hội Cựu chiến binh đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực như thăm hỏi, tặng quà thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công; xây dựng, sửa chữa nhà “Nghĩa tình Cựu chiến binh”; đồng thời tích cực tham gia Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Theo đó, trong dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, toàn Hội đã trao 3.800 suất quà trị giá 1,9 tỷ đồng; trao 950 suất quà cho hội viên Cựu chiến binh mắc bệnh hiểm nghèo, ốm đau dài ngày hoặc bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, với tổng kinh phí 950 triệu đồng. Phong trào xây dựng nhà “Nghĩa tình Cựu chiến binh” đã hỗ trợ sửa chữa 50 căn và xây mới 79 căn nhà, với tổng kinh phí 7,82 tỷ đồng.
Từ chính sách đến trách nhiệm của toàn xã hội
Hội thảo cũng cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp do thương binh và người khuyết tật làm chủ, trong công tác an sinh xã hội và “Đền ơn đáp nghĩa”.
Theo ông Trần Hồng Quảng, sau 23 năm hoạt động, Hiệp hội Doanh nghiệp của Thương binh và Người khuyết tật Việt Nam đã thu hút gần 1.000 hội viên, tạo việc làm cho hàng triệu người lao động; các doanh nghiệp hội viên đóng góp hàng nghìn tỷ đồng vào ngân sách và vận động hàng chục tỷ đồng cùng nhiều hiện vật để xây dựng hàng trăm căn nhà “Nghĩa tình đồng đội” trao tặng gia đình chính sách, người có công.
Đây là minh chứng cho thấy thực hiện chính sách người có công không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước mà cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhân dân.
Để Pháp lệnh thực sự đi vào cuộc sống
Điểm chung nổi bật trong các ý kiến tại Hội thảo là sự thống nhất ở quan điểm: ban hành Pháp lệnh mới mới chỉ là bước đầu; điều quan trọng là tổ chức thực hiện để từng chính sách đến đúng người, đúng đối tượng và đúng thời điểm.
Từ góc độ Bộ Nội vụ, ông Nguyễn Tiến Đạo, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ, cho biết cơ quan quản lý mong muốn tiếp tục lắng nghe ý kiến của Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp của Thương binh và Người khuyết tật Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chính sách để tiếp tục tham mưu hoàn thiện chính sách. Mục tiêu được đặt ra là bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công được chăm lo toàn diện cả về vật chất và tinh thần, có mức sống từ trung bình khá trở lên so với cộng đồng dân cư nơi cư trú.

Từ các tham luận có thể thấy, để Pháp lệnh 05 thực sự đi vào cuộc sống, cần đồng thời thực hiện nhiều giải pháp: hoàn thiện văn bản hướng dẫn; đơn giản hóa thủ tục; chủ động rà soát các trường hợp còn vướng mắc; số hóa và liên thông dữ liệu; phát huy vai trò nhân chứng lịch sử; đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính liệt sĩ; nâng cao chất lượng tuyên truyền và phát huy vai trò giám sát, phản biện của báo chí.
Quan trọng hơn, chính sách cần được thực hiện bằng tinh thần trách nhiệm và sự chia sẻ. Bởi phía sau mỗi hồ sơ là một con người, phía sau mỗi người có công là một gia đình và phía sau mỗi sự hy sinh là một phần lịch sử của dân tộc.
Hội thảo “Đưa Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng vào cuộc sống” vì thế không chỉ góp phần làm rõ những quy định mới của Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16, mà còn gửi đi một thông điệp có ý nghĩa sâu sắc: tri ân người có công phải được thể hiện bằng những chính sách đúng đắn, những hành động cụ thể và một cơ chế thực hiện đủ nhanh, đủ nhân văn để không ai đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc bị bỏ lại phía sau.

Ts Phạm Gia Yên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật và chính sách Doanh nghiêp tổng kết hội thảo.
Phát biểu tổng kết Hội thảo, TS. Phạm Gia Yên đánh giá các tham luận, ý kiến trao đổi tại Hội thảo đã tập trung làm rõ nhiều nội dung quan trọng liên quan đến việc triển khai Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng trong tình hình mới.
Theo TS. Phạm Gia Yên, các ý kiến tại Hội thảo không chỉ tập trung phân tích những điểm mới của Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16 mà còn đi sâu vào những vấn đề thực tiễn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Trong đó, nổi bật là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn; rà soát, tháo gỡ những hồ sơ còn tồn đọng; đơn giản hóa thủ tục hành chính; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và kết nối cơ sở dữ liệu về người có công; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quá trình giải quyết chính sách.
TS. Phạm Gia Yên nhấn mạnh, đích đến của chính sách không chỉ là bảo đảm đúng, đủ chế độ cho người có công mà phải tạo ra những điều kiện tốt hơn để người có công và gia đình họ có cuộc sống ổn định, được chăm lo cả về vật chất lẫn tinh thần.
Bình luận bài viết