![]() |
| Bà mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Tới nhìn chân dung mình trong iPad |
Những người mẹ thầm lặng
Mẹ đón chúng tôi bằng nụ cười hồn hậu. “Mẹ tôi là Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Sửu, có 3 con hy sinh và một thương binh nặng. Em gái tôi là Bà mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Hoa, cũng có chồng và 2 con là liệt sĩ”, mẹ kể. Thật bất ngờ khi chúng tôi đang bước vào một gia tộc của các thế hệ Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Ký ức những ngày chiến tranh cuồn cuộn trở về, đầy ắp trong lòng mẹ. Mẹ nhớ những ngày chống Pháp với tầm vông vạt nhọn đánh giặc. Bà Trần Thị Sửu, mẹ ruột của mẹ là Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ. Những năm đầu cuộc kháng chiến, bộ đội gặp khó khăn, sống dựa vào dân, đồng bào ở đây đã trở thành một bộ phận của lực lượng hậu cần trực tiếp, tại chỗ. Hội Mẹ chiến sĩ và Hội Phụ nữ gắn chặt trong công tác nuôi quân, lo cho các chiến sĩ từng chiếc chăn, tấm áo. Mẹ nhớ các má, trong đó có mẹ mình đi trước vận động bà con, các chị trẻ theo sau gánh đầy những gánh quà, nhất là dịp lễ, ngày tết. Mùa đông đến, xúc động trước những lời kêu gọi của các má, đồng bào sẵn lòng quyên góp quần áo, khăn mền cho bộ đội. Và mẹ không ngăn được xúc cảm bật lên bài hát đã nằm lòng suốt mấy mươi năm:
“… Lấy chiếc áo che thân cho hàng ngàn chiến sĩ/ Nơi sa trường chịu lạnh giữa đêm đông /Hỡi ai những kẻ có lòng /Nghĩ đến chiến sĩ mùa đông tới rồi /Mùa đông lạnh lắm ai ơi!/ Biết bao chiến sĩ đêm đông xa nhà…”.
Bà mẹ chiến sĩ ấy trong thời chống Mỹ tiếp tục nuôi giấu cán bộ, dũng cảm gánh xương trâu bò bị cà-nông địch bắn chết, đi đấu tranh trực diện đòi bồi thường thiệt hại cho đồng bào. Người mẹ ấy dám dang tay cản xe tăng địch càn hoa màu. Chiến tranh càng ác liệt, mẹ càng mong đợi anh em đi tập kết trở về…
“Mẹ tôi mất năm 1960, lúc Đồng khởi mới lên. Anh em tập kết sau ngày hòa bình về nhưng không gặp mẹ. Hồng Sơn này có nhiều bà mẹ thầm lặng như mẹ tôi. Cực khổ, hy sinh nhiều nhưng không kịp thấy ngày hòa bình”, mẹ Võ Thị Tới bùi ngùi nói.
Mẹ say sưa kể về những ngày thanh xuân sôi nổi tham gia chống Pháp, thời mẹ là Trung đội trưởng trung đội nữ du kích thôn Dân Bình Tây, xã Dân Thạnh (nay là xã Hồng Sơn). Mẹ nhớ đến năm 1949, toàn xã có gần 400 nam nữ thanh niên vào dân quân du kích, mỗi thôn có một trung đội nữ và một trung đội nam dân quân, mỗi xóm có từ 1 đến 2 tổ, mỗi tổ trên 15 người. Với sự nhanh nhẹn và linh hoạt, cô trung đội trưởng trung đội nữ du kích thôn Dân Bình Tây cùng một số chị em nắm tình hình liên lạc, đưa đường cho bộ đội đột nhập vào Ma Lâm diệt ác…
Trên nền ngôi nhà xưa, bao câu chuyện thời kháng chiến sống dậy. Hai chị em nhắc lại nhiều chị em làm binh vận rất giỏi. Đâu ai ngờ dưới những gánh gạo là vũ khí chị em lấy được, mang về cho du kích. Ở tuổi ngoài 80, các bà mẹ vẫn còn nhớ như in những tấm gương anh hùng của người dân Hồng Sơn, từng ông già liều chết ôm vật giết Tây để giải thoát cho bộ đội, đến em bé liên lạc để bảo vệ bí mật cơ quan, đã ưỡn lồng ngực trẻ thơ hứng những loạt đạn tàn bạo của kẻ thù. Các mẹ nhớ ngọn lửa rực sáng đêm đêm trên đất làng, soi đường cho thanh thiếu niên toàn huyện về họp, cắm trại, mở lớp huấn luyện; nhớ ngọn đèn thắp lên từ bóng tối, soi những đêm học bình dân học vụ, có mẹ tập viết i tờ bằng đôi bàn tay chai cứng…
Những ngày nồng nhiệt, trong sáng đó, cô đội trưởng dân quân du kích mới 20 tuổi được học cảm tình Đảng. Tháng sau, nữ đội trưởng Võ Thị Tới được kết nạp Đảng nhưng cô sợ mình lấy chồng, sinh con sẽ bỏ bê việc của Đảng. Việc vào Đảng ngày ấy với mẹ rất hệ trọng, thiêng liêng. Rồi cô nữ trung đội dân quân lao vào công tác, chống càn, đánh giặc. Ở Hồng Sơn thời đó ai cũng lao vào kháng chiến, quên việc mẹ đã chuẩn bị vào Đảng. “Dù vậy, mẹ vẫn tự nhủ phải sống xứng đáng, như một đảng viên, theo lời dạy của Bác Hồ”. Lời mẹ nói từ đáy lòng, được chứng thực bằng máu thịt cuộc đời trong cuộc kháng chiến ác liệt…
Tiếp tế, nuôi giấu cán bộ lúc bấy giờ trở thành nhiệm vụ chính nhưng vô cùng khó khăn, nguy hiểm nhưng với tấm lòng kiên trung dành cho cách mạng, mẹ vẫn duy trì các hũ gạo, hộp thơ bí mật ở nhiều điểm hẹn, vẫn đưa được vào vùng căn cứ những thứ cần thiết như gạo, thuốc, mắm muối, cá khô, quần áo… Bị những tên ác ôn, chiêu hồi chỉ điểm, mẹ nhiều lần bị địch bắt vào tù vì tội “tiếp tế cho Việt cộng”. Mẹ bị địch mang xuống nhà tù Phan Thiết thẩm vấn, khai thác. Mẹ nhất quán trong lời khai “mang cơm ra đồng cho chăn trâu”, nên 4 lần bị bắt đều được thả. “Người dân Hồng Sơn vẫn tìm cách tiếp tế cho cách mạng bằng mọi cách. Chúng không cho tôi mang cá ra thì tôi mần, kho ở nhà, gởi cho mỗi đứa chăn trâu mỗi đứa một ít, dồn đống lại thành một nồi lớn, mang cho du kích. Ngày tết anh em ngoài căn cứ vẫn đầy đủ bánh tét, thịt heo. Địch biết mà không làm gì được”, mẹ tủm tỉm cười, kể.
Những năm tháng ấy, từng liếp mì vẫn lên xanh, để dành cho bộ đội ăn no đánh giặc. Mẹ vẫn tranh thủ cắm những cây mì ở những nơi nào có thể cắm được, để cán bộ, du kích khi đói có thể nhổ mì luộc ăn đỡ lòng… Mẹ không sao quên được những ngày tận cùng đói khổ, tủi cực. Bị ghi vào bảng đen “Gia đình Việt cộng”, ngôi nhà mẹ luôn bị bọn chỉ điểm rình rập. Hàng xóm dù rất thương mẹ cũng không ai dám qua lại. Lúc vào mùa, mẹ không thuê mướn ai được, do sợ bị “liên lụy với Việt cộng”. Năm ấy, mẹ có thai gần ngày sinh, gia đình cách mạng bị cô lập, phải tự mình đi cày.
Bình luận bài viết