Dự án nhà vườn Minh Tâm tại Long Biên, do HANDIC làm chủ đâu tư.
Công ty CP Tư vấn HANDIC - Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội (HANDIC) là Doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa tháng 6 năm 2006, trực thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội - UBND Thành phố Hà Nội. Với ngành nghề sản xuất kinh doanh chính là Tư vấn trong các lĩnh vực đầu tư xây dựng, đầu tư kinh doanh phát triển nhà, trải qua quá trình hơn 10 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, HANDIC là một trong những đơn vị đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của ngành kiến trúc-xây dựng của đất nước nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng. Đặc biệt từ năm 2005 đến nay, HANDIC đã có sự phát triển vượt bậc, mạnh mẽ và dần tạo được uy tín thương hiệu trên thị trường trong cả lĩnh vực tư vấn và đầu tư.
Hiện, người đang điều hành HANDIC là ông Trịnh Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Công ty.
Vừa qua, Chủ tịch Hội đồng quản trị HANDIC tiếp tục được giới thiệu tái ứng cử HĐND TP Hà Nội khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026. Đợn vị bầu cử số 07 quận Thanh Xuân. Theo kết quả công bố, Ông Trịnh Xuân Quang nằm trong danh sách trúng cử Đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) TP Hà Nội nhiệm kỳ 2016-2021.
Ngoài ra, ông Trương Hải Long, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội, công ty mẹ của Handic, cũng nằm trong danh sách trúng cử của HĐND thành phố Hà Nôi nhiệm kỳ 2016-2021.
Như vậy, trong tổng số 9 doanh nhân trúng cử Đại biểu HĐND thành phố Hà Nôi, Tổng công ty Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội góp mặt hai doanh nhân là ông Trưởng Hải Long, Chủ tịch HĐTV Handico, ông Trịnh Xuân Quang, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Handic, công ty con của Handico.
Lỗ triền miên, nợ phải trả gấp nhiều lần vốn tự có
Giới thiệu là thế nhưng theo như báo cáo tài chính giai đoạn 2016-2020 của Công ty CP Tư vấn HANDIC lại cho thấy sự tương phản không giống với những gì mà Handico đang giới thiệu về công ty “con cưng” HANDIC.
Trong 5 năm nói trên, tổng tài sản của HANDIC liên tục đi xuống, lần lượt ở các mức: 474,87 tỉ đồng (2016); 273,19 tỉ đồng (2017), 265,94 tỉ đồng (2018), 238,39 tỉ đồng (2019). Năm 2020, tài sản có nhích lên nhưng không đáng kể, ở mức 239,24 tỉ đồng.
Đáng nói, phần lớn tài sản của HANDIC được hình thành từ nợ. Trong đó, năm 2016, Nợ phải trả của Handic là 454,64 tỉ đồng. Năm 2017 Nợ phải trả ở mức 248,08 tỉ đồng; 2018 là 242,38 tỉ đồng; 2019 là 224,28 tỉ đồng; 2020 là 226,73 tỉ đồng.
Trong khi Nợ phải trả luôn ở mức cao thì từ năm 2018, Vốn chủ sở hữu của Handic lại lao đầu đi xuống. Theo đó, vào năm 2016 vốn chủ sở hữu của HANDIC là 20,22 tỉ đồng, năm 2017 con số này tăng lên 25,11 tỉ đồng thì từ năm 2018 bắt đầu lao dốc xuống 23,55 tỉ đồng rồi 13,94 tỉ đồng (2019) và 12,5 tỉ đồng (2020).
Có thể thấy, Nợ phải trả của HANDIC luôn lớn gấp hàng chục lần Vốn chủ sở hữu. Cụ thể: năm 2016 gấp 22,48 lần; năm 2017 gấp 9,87 lần; năm 2018 gấp 10,29 lần; năm 2019 gấp 17,1 lần và năm 2020 gấp 18,13 lần.
Đáng chú ý, trên Bảng cân đối kế toán, tại mục Nợ phải trả, khoản Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước của HANDIC tăng đều qua các năm. Cụ thể: 3,23 tỉ đồng (2016), 14,96 tỉ đồng (2017), 14,65 tỉ đồng (2018), 20,19 tỉ đồng (2019) và 20,26 tỉ đồng (2020).
Về kết quả kinh doanh, năm 2017, HANDIC ghi nhận doanh thu tăng đột biến từ 10,2 tỉ đồng (2016) lên 376,59 tỉ đồng (2017). Cũng trong năm 2017, Handic ghi nhận lãi sau thuế 2,77 tỉ đồng, gấp nhiều lần so với con số 101 triệu đồng của năm 2016.
Tuy nhiên, sau năm 2017 năm huy hoàng, bức tranh tài chính của Handic từ năm 2018 đến năm 2020 trở nên ảm đạm.
Trong 3 năm gần đây, doanh thu của Handic giảm dần, lần lượt đạt 2,6 tỉ đồng năm 2018; 1,97 tỉ đồng năm 2019 và vỏn vẹn 1,14 tỉ đồng năm 2020.
Cùng với đà lao dốc của doanh thu, Handic liên tiếp báo lỗ -413,6 triệu đồng (2018); - 4,74 tỉ đồng năm 2019 và -1,44 tỉ đồng năm 2020.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến thời điểm năm 2020 cả nước có khoảng hơn 650 doanh nghiệp nhà nước có số liệu báo cáo cung cấp dữ liệu hoạt động. Trong đó có khoảng 478 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nông lâm nghiệp... Khoảng 180 doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn.
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh ở cả hai khối có khoảng gần 200 doanh nghiệp hoạt động theo mô hình mẹ- con. Trọng tâm của doanh nghiệp nhà nước là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, hiện diện trong 6 lĩnh vực quan trọng như nông nghiệp, năng lượng, tài chính – ngân hàng, viễn thông, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp chế biến chế tạo.
Phân tích từ bộ này cho thấy, phần lớn nguồn lực và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đều xuất phát từ hoạt động các doanh nghiệp nhà nước theo mô hình công ty mẹ-con. Cụ thể, qua 3 năm, tổng tài sản của khối các doanh nghiệp này bình quân đạt 2.735.000 tỷ đồng, chiếm 92% tổng tài sản của các doanh nghiệp nhà nước trên phạm vi toàn quốc. Vốn chủ sở hữu của khối này bình quân đạt 1.240.126 tỷ đồng, chiếm 91% tổng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế, chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Cụ thể, hiện doanh nghiệp nhà nước đóng góp gần 40% GDP, phần còn lại 60% GDP là đóng góp từ doanh nghiệp tư nhân và khu FDI. Trong khi đó, khoảng 60% nguồn lực xã hội đang tập trung cho doanh nghiệp nhà nước. Như vậy, khu vực doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn chưa hiệu quả.
Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp Nhà nước được giao một khối lượng tài sản rất lớn để kinh doanh nhưng hệ thống quản lý, giám sát không theo kịp với yêu cầu thực tiễn. Thậm chí, thiếu hiệu lực và kém hiệu quả, dẫn tới không ngăn ngừa và cảnh báo được các nguy cơ làm doanh nghiệp bị thua lỗ, mất vốn nhà nước; Chưa chú trọng đến trách nhiệm giải trình của người đứng đầu đối với tiến trình sắp xếp, đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Giải pháp nào cho hiệu quả
Đưa ra giải pháp cho doanh nghiệp Nhà nước phát triển, ông T.S. Nguyễn Quang Tuấn, Ban nghiên cứu sản xuất, Tập đoàn công nghiệp - viễn thông Quân đội (Viettel), dẫn lại lời phát biểu của Chủ tịch Tập đoàn Viettel mới đây: "Tôi mong các bộ, ngành hãy nghĩ một câu thôi. Cố gắng làm sao từ tư duy hãy coi doanh nghiệp Nhà nước như doanh nghiệp tư nhân". Ông Tuấn khuyến nghị, cần mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp Nhà nước, chuyển đổi chính sách từ quản lý đầu vào sang quản lý mục tiêu và quản lý dựa trên kết quả. Nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước, đẩy mạnh đổi mới tư duy trong việc xây dựng Nhà nước kiến tạo, Nhà nước phục vụ. Hỗ trợ tốt hơn đối với doanh nghiệp trong công tác dự báo, định hướng cũng như có những cảnh báo tốt với doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Đức Trung, Phó cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đề xuất cần tập trung vào việc xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng đổi mới quản lý chủ sở hữu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Nhà nước được hoạt động bình đẳng, chủ động cạnh tranh và cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Đơn cử như Nhà nước quản lý theo mục tiêu và giao quyền chủ động, tự quyết trong sản xuất kinh doanh, đầu tư cho doanh nghiệp. Nhà nước định kỳ thực hiện vai trò quản lý, giám sát, đánh giá theo quý hoặc năm theo các phương thức như lựa chọn thuê công ty kiểm toán lớn thực hiện giám sát...
Cần mạnh dạn trao quyền hoặc giao nhiệm vụ cho một số doanh nghiệp Nhà nước để phát triển các hạ tầng nền tảng để có thể ứng dụng kinh tế chia sẻ, đẩy mạnh phát triển công nghệ số trong tương lai... Xác định rõ một cơ quan có nhiệm vụ quản lý chung đối với hệ thống doanh nghiệp Nhà nước. Đồng thời, tạo cơ chế chính sách để Nhà nước hoặc doanh nghiệp Nhà nước tham gia phát triển các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, mang tính mới, có khả năng chiếm lĩnh thị trường.
Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm dần, ông Trung cho rằng cổ phần hoá chỉ nên xem là một giải pháp. Củng cố phát triển doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn, hoạt động hiệu quả bên cạnh khối doanh nghiệp tư nhân trong nước đang ngày càng lớn mạnh sẽ là một trong những giải pháp quan trọng.
Nhìn khái quát bức tranh doanh nghiệp Nhà nước và cải cách doanh nghiệp Nhà nước, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, cho rằng tiến trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước là quá trình cải cách phức tạp, khó khăn và đầy mâu thuẫn. Thu nhỏ nhiều về số lượng doanh nghiệp nhưng tài sản còn rất khổng lồ, chủ yếu nằm ở các tập đoàn, tổng công ty mẹ-con, nhưng hiệu quả kinh doanh thấp. Số liệu mới nhất năm 2020, kể cả doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách có cải thiện nhưng bức tranh chung là thấp. Tiến trình cải cách vô cùng chậm như vấn đề minh bạch và yêu cầu các tổng công ty cổ phần hoá niêm yết. Xử lý 12 đại dự án vẫn nguyên xi như trước – chưa nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm. Vốn nợ tĩnh đọng ngày càng lớn, tới vài nghìn tỷ đồng.
Doanh nghiệp Nhà nước rất khó hoạt động hiệu quả, mà lý do theo ông Thành, là xung đột lợi ích, tất cả đều chỉ là đại diện dù là các bộ ngành vì đây không phải là sở hữu tư nhân. Gốc rễ này không bao giờ xử lý được 100%. Cho nên ông Thành cho rằng, để doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hiệu quả, cần giảm thiểu căn nguyên bằng giám sát, tăng cường trách nhiệm, phân vai rõ, đánh giá hiệu quả...