“Bệ đỡ” cho chuỗi giá trị rau quả
Bước sang tháng 1/2026, xuất khẩu tiếp tục tăng tốc với giá trị hơn 644 triệu USD, tăng tới 72,9% so với cùng kỳ. Trên nền tăng trưởng hai con số liên tiếp, mục tiêu chạm mốc 10 tỷ USD trong năm 2026 không còn là kỳ vọng xa vời.
Đằng sau những con số ấn tượng ấy là một quá trình tái cấu trúc sâu rộng – từ tổ chức vùng nguyên liệu, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm đến đầu tư chế biến sâu và mở rộng thị trường. Trong chu kỳ phát triển mới, tín dụng ngân hàng đang nổi lên như một “đòn bẩy mềm” nhưng có sức nặng quyết định, góp phần tái định vị lợi thế cạnh tranh của ngành rau quả Việt Nam.
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn toàn hệ thống đạt trên 4,2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 14,5% so với cuối năm 2024, chiếm gần 23% tổng dư nợ nền kinh tế, phục vụ hơn 14,5 triệu khách hàng. Riêng khu vực nông thôn, dư nợ đạt khoảng 2,4 triệu tỷ đồng, với gần 10 triệu khách hàng còn dư nợ – phần lớn là hộ sản xuất nông nghiệp.

Ngân hàng chuẩn bị nguồn tiền cho khách hàng vay. Ảnh Trọng Triết
Trong cơ cấu tín dụng theo ngành hàng, ngoài lúa gạo (gần 232 nghìn tỷ đồng), thủy sản (trên 285 nghìn tỷ đồng) và cà phê (gần 145 nghìn tỷ đồng), tín dụng cho rau quả đang tăng nhanh ở nhiều địa phương trọng điểm.
Tại Ngân hàng Khu vực 13 gồm tỉnh Đồng Tháp – Tây Ninh, dư nợ cho vay ngành rau quả đạt 18.715 tỷ đồng, tăng 42,2% so với cuối năm 2024. Ở Ngân hàng Khu vực 14 gồm TP Cần Thơ – Vĩnh Long, dư nợ đến 31/12/2025 đạt 14.623 tỷ đồng, tăng 19,74%; đến cuối tháng 1/2026 tăng lên khoảng 14.800 tỷ đồng. Còn Ngân hàng Khu vực 15 (tỉnh An Giang – Cà Mau), dư nợ ngành rau quả đạt 3.598 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi so với cuối năm trước.
Tính chung toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, dư nợ phục vụ sản xuất – thu mua – chế biến – xuất khẩu rau quả ước khoảng 35.000 tỷ đồng. Đây là nguồn lực tài chính quan trọng để mở rộng diện tích đạt chuẩn, đầu tư kho lạnh, nhà máy chế biến, dây chuyền đóng gói hiện đại và xây dựng chuỗi liên kết bền vững.
Việc trên 90 tổ chức tín dụng và gần 1.100 quỹ tín dụng nhân dân tham gia cho vay nông nghiệp cho thấy độ phủ vốn rộng khắp, giúp dòng tiền thấm đến tận hộ nông dân và hợp tác xã – mắt xích nền tảng của chuỗi giá trị.
Thị trường mở rộng, cấu trúc sản phẩm thay đổi: Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) cho biết, năm 2025 Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam, với kim ngạch trên 5,5 tỷ USD. Chỉ riêng tháng 1/2026, xuất khẩu sang thị trường này đạt gần 376 triệu USD, tăng hơn 117% so với cùng kỳ, chiếm khoảng 58% tổng kim ngạch toàn ngành.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý không chỉ là tăng trưởng về lượng mà còn là sự chuyển dịch về chất. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt gần 48,5 triệu USD trong tháng đầu năm 2026, tăng trên 56%. Thị trường EU ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 58% trong năm 2025, nhờ tận dụng tốt ưu đãi thuế quan từ các hiệp định thương mại tự do.
Cơ cấu sản phẩm cũng thay đổi mạnh mẽ. Sầu riêng tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” với kim ngạch 3,86 tỷ USD, chiếm khoảng 45% tổng xuất khẩu toàn ngành năm 2025. Dừa tươi và dừa chế biến nổi lên sau khi ký kết nghị định thư xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Các mặt hàng như xoài, chuối, chanh leo, bưởi, dứa… gia tăng tỷ lệ tại các thị trường khó tính, trong đó chanh leo chiếm khoảng 25% cơ cấu rau quả xuất khẩu sang EU.
Sự thay đổi này không diễn ra tự nhiên mà gắn chặt với dòng vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, chuẩn hóa vùng trồng, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc.
Từ sản xuất nhỏ lẻ đến tổ chức quy mô lớn
Một trong những “điểm nghẽn” lâu nay của ngành rau quả là sản xuất manh mún, thiếu liên kết và phụ thuộc thương lái. Tín dụng ngân hàng, nếu chỉ dừng ở cho vay từng hộ nhỏ lẻ, khó tạo ra bước ngoặt. Tuy nhiên, vài năm gần đây, mô hình cho vay theo chuỗi giá trị đã được đẩy mạnh.
Hệ thống Agribank đang đóng vai trò chủ lực trong tài trợ các vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Tại tỉnh Vĩnh Long, nhiều hợp tác xã dừa đã tiếp cận vốn ưu đãi với lãi suất thấp hơn khoảng 1,5%/năm so với thông thường để cải tạo vườn, thay giống mới, nâng cao năng suất. Hàng nghìn hộ dân tại xã Song Lộc phát triển hơn 1.500 ha dừa sáp đặc sản nhờ nguồn vốn ngân hàng.
Ở khâu chế biến, các doanh nghiệp đã đầu tư mạnh vào công nghệ hiện đại, tổng công suất 136.000 tấn/năm, xuất khẩu tới hơn 50 quốc gia. Tự động hóa tới 90% dây chuyền, ứng dụng công nghệ tiệt trùng nhanh và bao bì thân thiện môi trường giúp sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn cao của Mỹ, EU, Nhật Bản.
Những khoản vay hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng cho doanh nghiệp chế biến không chỉ giúp tăng quy mô sản xuất mà còn kéo theo nhu cầu liên kết bền vững với nông dân. Khi nhà máy cần nguyên liệu đạt chuẩn GlobalGAP, VietGAP, ngân hàng đồng thời tài trợ vùng trồng, tạo nên một hệ sinh thái tài chính – sản xuất – xuất khẩu khép kín.
“Hạ tầng mềm” cho tín dụng an toàn: Từ ngày 1/1/2026, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia chính thức vận hành. Đây được xem là nền tảng số giúp ghi nhận, quản lý và truy vết thông tin sản phẩm trong suốt quá trình sản xuất – chế biến – lưu thông.
Với ngành Ngân hàng, hệ thống này không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn là công cụ giảm rủi ro tín dụng. Khi dữ liệu vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, tiêu chuẩn kiểm dịch được số hóa, tổ chức tín dụng có thêm cơ sở đánh giá dòng tiền và khả năng trả nợ của khách hàng. Tín dụng vì thế có thể được cung cấp nhanh hơn, chi phí vốn giảm, đồng thời hạn chế tình trạng “đứt gãy” do vi phạm tiêu chuẩn xuất khẩu.
Dù tăng trưởng mạnh, ngành rau quả vẫn đối diện không ít rủi ro. Sự phụ thuộc lớn vào thị trường Trung Quốc tiềm ẩn nguy cơ khi chính sách biên mậu thay đổi. Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng trái cây.
Ngoài ra, nhiều vùng trồng chưa được cấp mã số, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, hạ tầng bảo quản – logistics còn hạn chế, chi phí vận chuyển cao. Nếu không giải quyết đồng bộ, mục tiêu 10 tỷ USD có thể thiếu bền vững.
Giải pháp cho chu kỳ tăng trưởng mới
Để tín dụng thực sự trở thành động lực tái cấu trúc ngành rau quả trong năm 2026 và thời gian tới, theo ThS Nguyễn Văn Hoàng, Phó Giám đốc Ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang đề xuất cần một gói giải pháp chính sách đồng bộ.
Thứ nhất, ưu tiên tín dụng chuỗi giá trị. Ngân hàng Nhà nước nên tiếp tục định hướng dòng vốn vào các mô hình liên kết 4 nhà (nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp – ngân hàng), áp dụng cơ chế cho vay dựa trên hợp đồng bao tiêu và dòng tiền xuất khẩu. Lãi suất ưu đãi cần gắn với tiêu chí đạt chuẩn vùng trồng và truy xuất nguồn gốc.
Thứ hai, mở rộng tín dụng trung, dài hạn cho chế biến sâu. Các dự án đầu tư kho lạnh, dây chuyền sấy thăng hoa, nước ép, đóng hộp… nên được hưởng cơ chế tái cấp vốn ưu đãi hoặc bảo lãnh tín dụng. Chế biến sâu là chìa khóa nâng giá trị gia tăng và giảm áp lực tiêu thụ mùa vụ.
Thứ ba, phát triển quỹ bảo hiểm rủi ro nông nghiệp. Trước tác động của biến đổi khí hậu, cần cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước – doanh nghiệp – ngân hàng. Khi có bảo hiểm, ngân hàng mạnh dạn cho vay hơn, nông dân yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ tư, hỗ trợ logistics và hạ tầng số. Đầu tư cảng chuyên dụng, kho lạnh tập trung, trung tâm kiểm dịch tại vùng nguyên liệu sẽ giảm chi phí và thời gian thông quan. Đồng thời, cần kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc với cơ sở dữ liệu tín dụng để hình thành “hồ sơ số” cho từng vùng trồng.
Thứ năm, đa dạng hóa thị trường. Song song với việc củng cố thị trường Trung Quốc, cần đẩy mạnh xúc tiến tại EU, Hoa Kỳ, Trung Đông, Ấn Độ, Australia. Chính sách tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm tín dụng và hỗ trợ tham gia hội chợ quốc tế nên được tăng cường.

Chế biến dừa xuất khẩu. Ảnh Trọng Triết
Ngành rau quả Việt Nam đang bước vào một chu kỳ phát triển mới: từ tăng trưởng theo chiều rộng sang nâng cao giá trị gia tăng; từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch; từ sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức chuỗi.
Trong tiến trình ấy, tín dụng ngân hàng không chỉ là nguồn vốn mà còn là công cụ định hướng tái cấu trúc. Khi dòng vốn chảy đúng vào vùng nguyên liệu đạt chuẩn, vào công nghệ chế biến hiện đại và vào chuỗi liên kết bền vững, mục tiêu 10 tỷ USD không chỉ là con số kim ngạch mà còn là dấu mốc của một ngành hàng trưởng thành hơn, có khả năng cạnh tranh dài hạn trên thị trường toàn cầu./.
Bình luận bài viết