Hà Nội
Thứ 6, 24/07/2026
Nhiều mây
24°C

Còn món nợ tình nghĩa sau nửa thế kỳ chiến tranh đi qua

24/07/2026 09:20
3:12
Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, những vùng đất từng là chiến địa nay đã phủ màu xanh của rừng, những con đường mở xuyên rừng nay đã lát bê tông…tỏa sáng bức tranh nông thôn mới vùng cao biên giới. Nhưng phía sau sự bình yên hôm nay vẫn còn những phận người mang theo những mất mát không dễ gọi tên. Họ không trực tiếp cầm súng, không có những vết thương do bom đạn. Họ là ai, vết thương gì?

Chiều xuống trên vùng rừng Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Mặt hồ Khe Giữa phẳng lặng dưới chân núi Thiên Sơn, những cánh rừng xanh nối tiếp nhau đến tận chân trời. Khó ai hình dung nơi đây từng có một khu tập thể của những người thợ rừng, trong đó phần lớn là phụ nữ đã gửi lại tuổi xuân giữa đại ngàn. Họ từng mở đường, trồng rừng, bảo vệ rừng và làm nhiệm vụ ở những vùng đất có vị trí quan trọng trong bảo vệ biên giới Đông Bắc.

Còn món nợ tình nghĩa sau nửa thế kỳ chiến tranh đi qua

Bà Phạm Thị Sùng và căn nhà mới xây trên nền móng của ngôi nhà tình nghĩa đã hư hỏng. Bà Sùng vẫn lưu giữ tấm biển Cty than Hà Tu ân nhân xây cho mình căn nhà tình nghĩa cách đây trên 20 năm.

Con đường bê tông nhỏ dẫn vào căn nhà của bà Phạm Thị Sùng. Căn nhà mới được xây dựng trên nền ngôi nhà tình nghĩa hơn hai mươi năm trước. Người phụ nữ quê huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (cũ), nay đã ngoài sáu mươi tuổi đứng trước căn nhà mới với niềm vui xen lẫn nỗi lo. Bà đã gắn bó với vùng đất này gần nửa thế kỷ, nhưng đến tuổi xế chiều vẫn còn những băn khoăn về giấy tờ đất đai nơi mình đang sinh sống.

“Cả đời tôi chưa bao giờ nghĩ, đến tuổi này lại phải lo vì chính căn nhà của mình”, bà Sùng nói. Câu nói ngắn ngủi ấy mở ra câu chuyện dài về một thế hệ phụ nữ đã sống và cống hiến trong những năm tháng đặc biệt của đất nước. Đó cũng là câu chuyện về những “cột mốc sống” nơi biên giới, về một “xóm gái không chồng” giữa đại ngàn, về những căn nhà tình nghĩa được dựng lên bằng lòng nhân ái nhưng cũng từng chịu những lời dị nghị, và cuối cùng là câu chuyện về một “chiếc khóa” còn thiếu để họ có thể thực sự yên tâm với nơi ở đã gắn bó gần nửa thế kỷ.

Còn món nợ tình nghĩa sau nửa thế kỳ chiến tranh đi qua

Phế tích ngôi nhà tình nghĩa.

Cột mốc biên giới sống

Năm 1979, khi chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra, cô gái Phạm Thị Sùng mới 18 tuổi. Từ huyện Bình Giang, Hải Dương, chị cùng nhiều thanh niên vùng đồng bằng lên rừng Đông Bắc theo tiếng gọi của Đảng Nhà nước. Đơn vị của chị thuộc Công ty cơ giới Cầu đường Lâm nghiệp Quảng Ninh, làm nhiệm vụ mở đường giữa những cánh rừng phục vụ quốc phòng, sau đó chuyển sang trồng rừng và khai thác lâm sản.

Những cô gái tuổi đôi mươi rời quê với hành trang đơn sơ, mang theo niềm tin rằng rồi sẽ có ngày trở về. Nhưng vùng rừng Đông Bắc đã giữ chân họ bằng một cuộc đời khác. Một đội sản xuất có khoảng 120 người thì gần 100 là nữ. Họ sống giữa rừng sâu, xa khu dân cư, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn. Đường đi chủ yếu là những lối mòn xuyên núi. Điện chưa có, mùa mưa lũ rừng kéo về nhiều khu vực bị chia cắt; mùa đông, gió núi luồn qua những căn lán tạm. Công việc của họ là mở đường, phát dọn thực bì, trồng và chăm sóc cây, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu-phục vụ chiến đấu.

Họ không trực tiếp đứng trong đội hình chiến đấu nơi trận địa. Nhưng giữa những năm tháng chiến tranh, ranh giới giữa hậu phương và tiền tuyến nhiều khi không rõ ràng. Những người thợ rừng vừa lao động sản xuất, vừa góp phần giữ địa bàn, bảo vệ những vùng đất chiến lược. Có những tuyến đường họ mở ra giữa núi rừng phục vụ nhiệm vụ quốc phòng; có những cánh rừng họ gây dựng sau chiến tranh, góp phần phủ xanh những vùng đất từng chịu bom đạn.

Ngày ấy, trong những người làm lâm nghiệp ở vùng Đông Bắc từng lưu truyền khẩu hiệu: mỗi lâm trường là một pháo đài, mỗi người thợ rừng là một cột mốc sống nơi biên giới. Quyết tâm ấy không phải một danh hiệu được trao bằng giấy tờ, nhưng phản ánh một thực tế lịch sử. Họ đã hiện diện ở những vùng rừng sâu, nơi sự có mặt của con người cũng đồng nghĩa với việc giữ đất, giữ rừng và giữ nguồn sống cho vùng biên.

Còn món nợ tình nghĩa sau nửa thế kỳ chiến tranh đi qua

Tấm bia lưu niệm mốc thời gian XD công trình tình nghĩa.

Phạm Thị Sùng từng có mặt ở Pò Hèn, Thán Phún, Tái Chi, Tấn Mài…những địa danh gắn với những con đường rừng mà Công ty cơ giới Cầu đường Lâm nghiệp Quảng Ninh mở rộng, kéo dài ra trong những năm tháng chiến tranh bảo vệ biên giới. Sau những năm mở đường, chị cùng đồng đội chuyển sang trồng rừng, khai thác lâm sản rồi về vùng Khe Giữa dưới chân núi Thiên Sơn.

Bốn mươi mấy năm trôi qua, những cánh rừng ngày nào đã lớn. Những con đường xuyên rừng nay nhiều nơi đã được bê tông hóa. Hồ Khe Giữa, hồ Cao Vân trở thành những công trình quan trọng trong cung cấp nguồn nước cho khu vực. Những vùng đất từng gian khó ngày trước đã có nhiều đổi thay. Nhưng tuổi xuân của những cô gái năm nào thì không thể trở lại.

Trong ký ức của họ, có những năm tháng gian khổ mà chỉ người trong cuộc mới hiểu. Có người nhận tin cha mất nhưng khi trở về thì mộ cha đã xanh cỏ. Có người về quê sau nhiều năm xa cách thì cha mẹ đã già, anh em đã lập nghiệp nơi khác. Quê hương dần trở thành nơi để nhớ hơn là nơi có thể trở về, họ tiếp tục ở lại rừng.

Những người phụ nữ ấy không xuất hiện trong những trang sử ghi lại các chiến công vang dội. Nhưng họ là một phần của lịch sử bình dị. Những con đường được mở giữa rừng, những khoảnh đất được gây dựng, những cánh rừng được phủ xanh sau bom đạn đều có công sức của họ. Nếu những cánh rừng biết kể chuyện, có lẽ chúng sẽ kể về những cô gái đã gửi lại tuổi trẻ dưới tán cây để đổi lấy màu xanh cho hôm nay.

Xóm không chồng

Thanh xuân trôi qua theo từng mùa cây bén rễ, những cô gái ngày nào dần bước qua tuổi đôi mươi, rồi ba mươi, bốn mươi. Những mối tình xa quê lần lượt nhạt phai trong khoảng cách và thời gian. Cuộc sống biệt lập giữa rừng sâu cũng khiến cơ hội tìm được một mái ấm gia đình ngày càng xa. Đến khi ngoảnh lại, tuổi xuân đã ở phía sau. Giữa đại ngàn Khe Giữa hình thành một khu tập thể mà người dân nhiều năm vẫn gọi bằng cái tên vừa mộc mạc vừa xót xa: “xóm không chồng”.

Đội lâm nghiệp Khe Giữa có gần 30 nữ công nhân không lập gia đình nhưng làm mẹ. Người một con, người hai con, có người một mình nuôi ba đứa trẻ. Những đứa trẻ lớn lên giữa rừng, trong những căn lán đơn sơ, trong tiếng gió qua tán cây và những mùa mưa kéo dài. Không ai trong số họ lên rừng với dự định sẽ sống như vậy. Nhưng khi tuổi trẻ dần trôi qua, khát vọng làm mẹ thôi thúc họ. Nếu không có một mái ấm trọn vẹn, họ vẫn mong được làm mẹ, được nuôi dưỡng một đứa trẻ. Đó là lựa chọn đầy nước mắt của những người phụ nữ hiểu rằng thời gian không chờ đợi.

Những người phụ nữ ấy đã phải đánh đổi quá nhiều. Họ đánh đổi tuổi xuân, hạnh phúc riêng và những cơ hội bình thường của một đời người. Nhưng điều đau đớn hơn là sau những hy sinh ấy, họ đôi khi còn phải chịu những lời dị nghị. Có người nhìn họ bằng ánh mắt thiếu cảm thông. Có người đặt những câu hỏi khiến họ tổn thương. Ngay cả khi có những người tốt dang tay giúp đỡ, họ vẫn phải nghe những lời dèm pha cay nghiệt.

Còn món nợ tình nghĩa sau nửa thế kỳ chiến tranh đi qua

Ông Vũ Đình Lân, nguyên Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh cho biết người được trao ngôi nhà tình nghĩa, khi ấy không giao đất nhưng họ ở ổn định từ năm 2004 không tranh chấp, nay nhà đổ nát nên cấp đất-cấp phép xây dựng cho họ.

Nhưng họ có cướp chồng của ai đâu. Họ chỉ lặng lẽ sống giữa rừng, làm việc, sinh con và nuôi con. Có những đêm con ốm, quanh mình không có trạm y tế. Có hôm mưa rừng sạt lở, muốn đưa con đi bệnh viện phải bế con lội bộ vài cây số may mới gặp được chiếc xe tải chở gỗ ngay qua cho đi nhờ. Ban ngày họ lên rừng trồng cây, tối về chăm con. Sáng hôm sau lại khoác gùi, vác cuốc, tiếp tục đi vào rừng.

Những người phụ nữ ấy không có một cuộc chiến riêng để gọi tên, nhưng cuộc đời họ là một chuỗi những cuộc chiến âm thầm: chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, chống lại đói nghèo, chống lại định kiến và chống lại nỗi cô đơn. Họ không đau vì bom đạn, mà đau vì mất đi tuổi thanh xuân, khuyết thiên chức làm vợ trong tổ ấm gia đình. Vết thương lòng còn đau hơn vết thương chảy máu trên da thịt.

Những căn nhà tình nghĩa trong dị nghị

Thời gian trôi qua, những đứa trẻ lớn lên, những người mẹ già đi. Những túp lều tranh xiêu vẹo, dột nát mùa mưa phải lấy chậu hứng nước, vách nứt mùa đông gió lùa rét buốt. Có căn lán chỉ rộng hơn chục mét vuông, mẹ con chen chúc trên chiếc giường mộc nhỏ. Họ tụt hậu trong cơ chế thị trường, vì thiếu vắng người đàn ông lao động chính trong nhà, đời sống ngày lại ngày thêm bi đát.

Đầu năm 2004, một chuyến khảo sát đời sống công nhân của Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Ninh tại Lâm trường Hoành Bồ đã làm thay đổi cuộc đời những người phụ nữ ấy. Đoàn công tác đến từng gia đình, những gì tận mắt chứng kiến khiến nhiều người không khỏi xót xa. Đó là những người phụ nữ đã dành cả tuổi thanh xuân mở đường quốc phòng, giữ đất-giữ rừng biên giới, làm giàu cho rừng. Họ nuôi con như cảnh mẹ góa con côi. Có người một mình nuôi ba con ăn học, có người không còn cha mẹ, anh em ruột thịt, người thân mà nhờ cậy.

Sau chuyến khảo sát, lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh và Lâm trường Hoành Bồ thống nhất phải làm điều gì đó để giúp họ ổn định cuộc sống. Ngay năm đó, 18 hộ mẹ đơn thân nuôi con khó khăn nhất được lựa chọn để hỗ trợ xây dựng nhà ở. 18 doanh nghiệp hảo tâm như: Công ty Xăng dầu B12, Điện lực Quảng Ninh, Mỏ than Hà Tu... cùng tham gia hỗ trợ. Doanh nghiệp đóng góp kinh phí, vật liệu xây dựng; lâm trường hỗ trợ gỗ; anh chị em trong đội giúp công sức cùng nhau san nền, mỗi người một tay xây dựng căn nhà cấp 4 theo mẫu mã chung, diện tích 36m2, thời giá khi ấy khoảng 12 triệu đồng.

Những mái nhà tình nghĩa lần lượt mọc lên bên bìa rừng Khe Giữa. Ngày trao nhà, những người phụ nữ vốn quen chịu đựng gian khó không giấu nổi nước mắt. Có người đứng rất lâu trước cánh cửa mới. Có người ôm con khóc nghẹn. Với họ, căn nhà không chỉ là nơi che mưa nắng. Đó là sự ghi nhận của cộng đồng đối với những năm tháng họ đã sống và làm việc giữa đại ngàn.

Còn món nợ tình nghĩa sau nửa thế kỳ chiến tranh đi qua

Rừng dưới chân núi Thiên Sơn bát ngát màu xanh, hồ Cao Vân, hồ Khe Giữa nước cả có công người thợ rừng đội Lâm nghiệp Khe Giữa.

Nhưng cùng với niềm vui, những lời dị nghị cũng xuất hiện. Có người đặt câu hỏi: xã hội còn nhiều hoàn cảnh khó khăn, tại sao lại đem tiền của lên rừng giúp những người phụ nữ “tranh vợ cướp chồng”? Một cách nhìn đầy định kiến đã vô tình làm tổn thương những con người vốn đã chịu nhiều thiệt thòi.

Họ không tranh chồng của ai. Họ chỉ là những người phụ nữ đã dành tuổi xuân cho công việc, cho rừng và cho một giai đoạn đặc biệt của đất nước. Khi được cộng đồng giúp đỡ, điều họ nhận được không phải là sự ban ơn, mà là sự sẻ chia đối với những hoàn cảnh đã chịu nhiều mất mát. Những căn nhà tình nghĩa vì thế mang một ý nghĩa lớn hơn giá trị vật chất. Đó là lời khẳng định rằng xã hội vẫn nhìn thấy họ, vẫn nhớ đến những năm tháng họ đã cống hiến. Nhưng hơn hai mươi năm sau, một vấn đề khác lại đặt ra.

Trao nhà còn thiếu khóa

Những căn nhà tình nghĩa ngày nào nay đã hư hỏng. Mái ngói cũ dột nát, gỗ mối mọt, nhiều gia đình phải sửa chữa hoặc xây dựng lại. Bà Phạm Thị Sùng cũng vậy. Ngôi nhà cũ không còn đủ sức chống chọi với thời gian. Gia đình phải tháo dỡ để xây lại trên nền nhà cũ, không lấn chiếm đất rừng, không tranh chấp với ai. Nhưng khi ngôi nhà mới hoàn thành, niềm vui lại đi cùng một nỗi lo: câu chuyện về hồ sơ, nguồn gốc sử dụng đất vẫn chưa được giải quyết đầy đủ.

Hơn hai mươi năm trước, họ được trao chìa khóa căn nhà. Hôm nay, họ vẫn đang chờ một “chiếc khóa” khác - chiếc khóa pháp lý để yên tâm về mảnh đất mình đã sống gần nửa thế kỷ. Câu chuyện ấy cần được nhìn nhận thấu đáo. Đất đai là vấn đề phải được giải quyết trên cơ sở pháp luật. Mọi trường hợp đều cần được rà soát, xác minh và xử lý đúng quy định. Nhưng pháp luật cũng cần được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

Những người phụ nữ ở Khe Giữa không phải những người tự ý vào rừng chiếm đất. Họ là những thanh niên được điều động đến vùng rừng Đông Bắc trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Họ đã mở đường, trồng rừng, giữ rừng và sinh sống ở đây suốt nhiều thập kỷ. Những căn nhà tình nghĩa năm 2004 cũng được xây dựng trên nền đất nơi họ đã gắn bó từ nhiều năm trước. Nếu hồ sơ còn thiếu, điều cần thiết là rà soát, xác minh đầy đủ nguồn gốc sử dụng đất, quá trình hình thành nơi ở và những đóng góp của họ; đối chiếu với các quy định hiện hành để tìm phương án giải quyết phù hợp, đúng pháp luật nhưng cũng thấu tình đạt lý.

Điều họ mong muốn không phải là một sự ưu ái nằm ngoài pháp luật. Họ chỉ mong lịch sử cuộc đời mình được nhìn nhận đầy đủ. Mong những năm tháng cống hiến không bị lãng quên. Và mong cuối đời được bình yên sống trong ngôi nhà trên mảnh đất mà họ đã gắn bó gần nửa thế kỷ. Có những món nợ nghĩa tình không thể chỉ trả bằng một mái nhà. Bởi một mái nhà có thể dựng lên trong vài tháng, nhưng để những con người đã cống hiến cả tuổi trẻ có được sự bình yên trong chính mái nhà ấy, đôi khi cần đến sự nhìn nhận công bằng của cả cộng đồng và trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền.

Chiến tranh đã lùi xa. Những vùng đất từng là chiến địa đã phủ xanh. Những con đường đã mở, những hồ nước đã đầy, những đứa trẻ năm nào đã trưởng thành. Những cô gái tuổi đôi mươi năm nào nay tóc đã bạc. Nhưng chiến tranh không chỉ để lại những thương binh, liệt sĩ. Nó còn để lại những con người mang trong mình những mất mát không có hình hài, không có tiếng nổ để người đời nghe thấy. Không có một khoảnh khắc để gọi tên là ngày bị thương, những vết thương ấy chỉ âm thầm nằm lại trong một đời người.

Những nữ công nhân lâm nghiệp ở Khe Giữa là một phần của lịch sử bình dị ấy. Họ từng được gọi là những “cột mốc sống” nơi biên cương. Họ đã mở đường, giữ rừng, trồng cây phủ xanh những vùng đất từng mang dấu tích chiến tranh. Rừng đã lớn lên, còn tuổi xuân của họ thì ở lại. Vì thế, câu chuyện của họ không chỉ là câu chuyện về một căn nhà hay một thửa đất. Đó là câu chuyện về cách chúng ta ứng xử với lịch sử và với những con người đã góp phần làm nên sự bình yên hôm nay.

Một dân tộc biết trân trọng quá khứ không chỉ bằng những tượng đài, những ngày kỷ niệm hay những lời tri ân. Quan trọng hơn là biết nhìn thấy những con người từng âm thầm cống hiến, biết nhận diện những khoảng trống còn tồn tại và tìm cách khép lại bằng trách nhiệm, sự công bằng và pháp luật. Những căn nhà tình nghĩa năm nào đã giúp những người phụ nữ mang trong mình những vết thương của chiến tranh có một mái ấm. Nhưng khi trao nhà, dường như đã thiếu mất một “chiếc khóa” quan trọng - chiếc khóa để họ có thể thực sự yên tâm về mảnh đất đã gắn bó gần nửa thế kỷ.

Chiến tranh đã đi qua gần nửa thế kỷ, những cánh rừng đã xanh, những con đường đã mở, những cô gái mở đường năm nào nay đã bước vào tuổi xế chiều. Có lẽ đã đến lúc món nợ nghĩa tình ấy cần được nhìn nhận và giải quyết bằng một cách thấu tình, đạt lý. Không chỉ bằng một mái nhà. Mà bằng sự ghi nhận, bằng trách nhiệm và bằng sự công bằng, để những người đã đi qua chiến tranh có thể bình yên đi hết phần đời còn lại của mình.

Tin liên quan
Từ khoá:

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...