Hà Nội
Thứ 3, 18/08/2026
Nhiều mây
24°C

Từ những trận đánh đến hành trình tri ân của Tướng Nguyễn Huy Hiệu

Từ những năm tháng trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường ác liệt đến hành trình trở về với đồng đội, người dân và những ký ức đã đi qua, Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu luôn mang theo một món nợ ân tình. Qua những câu chuyện được nghe và chứng kiến, Nhà báo Lục Hường cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của tình quân dân, lòng biết ơn và sự tri ân.

Vị tướng có duyên với con số 7

Khi đồng hành cùng Tướng Hiệu, tôi đã viết và đặt tên cho một cuốn sách là Vị tướng có duyên với con số 7. Đây không phải ngẫu nhiên, bởi Tướng Hiệu sinh ngày 27 tháng 7 năm 1947, tham gia 67 trận đánh, trong quá trình công tác đã đi 67 nước trên thế giới, Tướng Hiệu hay chia sẻ về 7 người Thầy, và rất nhiều những ký ức với con số 7 mà cứ nhắc đến số 7 là tôi bỗng nghĩ tới Tướng Hiệu. 

Từ những trận đánh đến hành trình tri ân của Tướng Nguyễn Huy Hiệu
Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu chia sẻ về những cuốn sách quý.

Nhưng có một con số khi nhắc đến cuộc đời binh nghiệp của Tướng Hiệu mà tôi luôn thấy vừa lớn lao, vừa khiến mình phải lặng người: 67 trận đánh. 67 trận đánh trong những năm tháng chiến tranh của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nếu chỉ đọc con số ấy trên một trang sử, có thể người ta sẽ nghĩ đó là một thành tích. Nhưng khi được nghe chính Tướng Hiệu kể về những năm tháng ấy, tôi hiểu rằng phía sau con số 67 là 67 lần đối diện với sự sống và cái chết; là những cuộc hành quân, những đêm dài, những quyết định sinh tử; là những người lính cùng ông bước vào trận đánh và cũng có những người không bao giờ trở về.

Tướng Hiệu là một vị tướng trận. Ông trưởng thành từ chiến trường, từ những năm tháng trực tiếp chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ những ngày đầu mặc áo lính, Quảng Trị đã trở thành một phần máu thịt trong ký ức của ông. Ông đi qua những chiến trường ác liệt, từ Mậu Thân năm 1968, Đường 9 – Nam Lào năm 1971, Quảng Trị năm 1972 cho đến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Nhưng với tôi, điều đáng nhớ nhất không phải là những chiến dịch được gọi tên trong lịch sử. Đó là cách Tướng Hiệu nhớ về những người đã cùng mình đi qua những chiến dịch ấy. Mỗi khi nghe ông kể chuyện chiến trường, tôi thường có cảm giác như mình đang được bước qua một cánh cửa của thời gian. Những gì chúng ta – những người sinh ra trong hòa bình – biết về chiến tranh phần lớn là những trang sách, những thước phim, những con số. Còn với Tướng Hiệu, chiến tranh là ký ức sống động của một đời người.

Quảng Trị - Nơi chiến trường khốc liệt, nơi mảnh đất ân tình 

Quảng Trị có lẽ là một trong những miền ký ức sâu đậm nhất trong cuộc đời Tướng Hiệu. Đó là nơi ông gắn bó từ những ngày đầu mặc áo lính. Đó cũng là nơi ông cùng đồng đội trải qua những tháng ngày mà mỗi bước chân đều có thể phải trả giá bằng máu và sinh mạng. Tôi từng nghe ông kể về Quảng Trị bằng một giọng rất khác. Không phải giọng của một vị tướng nói về chiến công. Mà là giọng của một người lính trở lại nơi mình từng sống, từng chiến đấu, từng chứng kiến đồng đội ngã xuống. Trong những câu chuyện ấy có những người dân đã cưu mang bộ đội, những bà mẹ đã coi người lính như con mình, những con người bình dị đã chở che, nuôi giấu và bảo vệ những người lính trong những năm tháng khốc liệt nhất. Đó là những bữa ăn đồng đội chia nhau, đó là những lần hành động, có thời điểm trước giờ G, những kỷ niệm mà đến giờ kể lại Tướng Hiệu vẫn nhớ từng giây, từng phút, từng địa danh. Những địa điểm với hàng rào điện tử Macnamara, Dốc Miếu, Cồn Tiên, ... Có lẽ chính những năm tháng ấy đã làm nên một phần rất quan trọng trong con người Tướng Hiệu hôm nay. Bởi người từng đi qua chiến tranh sẽ hiểu hòa bình quý giá đến thế nào. Người từng nhìn thấy đồng đội ngã xuống sẽ hiểu sự sống không phải là điều hiển nhiên. Và người từng được nhân dân che chở trong những năm tháng gian nan nhất sẽ hiểu rằng sức mạnh của một đất nước không chỉ nằm ở vũ khí hay quân đội, mà còn nằm trong lòng dân. Đó là một bài học mà tôi học được từ Tướng Hiệu, không phải qua một bài giảng, mà qua những câu chuyện ông kể.

Cuộc hành quân thần tốc

Tôi càng nghe Tướng Hiệu kể, càng hình dung rõ hơn con đường mà thế hệ ông đã đi qua để đất nước có được ngày hôm nay. Từ một chàng trai trẻ lên đường nhập ngũ, ông đã đi qua những chiến trường ác liệt của cuộc kháng chiến. Và rồi, khi thời cơ lịch sử đến, ông lại cùng đồng đội bước vào một cuộc hành quân thần tốc hướng về miền Nam. Mùa Xuân năm 1975, từ chiến trường Quảng Trị, đoàn quân tiến về phía Nam. Những người lính đi qua một đất nước vẫn còn trong chiến tranh, đi qua những chặng đường dài với điều kiện vô cùng gian khổ, để hướng tới mục tiêu cuối cùng: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi đã nhiều lần nghĩ về cuộc hành quân ấy. Ngày hôm nay, chúng ta có thể đi từ Bắc vào Nam bằng máy bay chỉ trong vài giờ. Đường sá thuận tiện, điện thoại có thể kết nối tức thời, bản đồ số có thể chỉ cho chúng ta từng con phố. Nhưng những người lính năm xưa đã đi qua một đất nước đang ở giữa chiến tranh, giữa bụi đường mù mịt, giữa cái nắng, cái nóng, giữa những trận mưa, giữa tiếng gió rít, và chỉ có duy nhất điện đài. Họ đi với những phương tiện và điều kiện rất khác hôm nay. Và họ đi với một niềm tin rất lớn. Niềm tin rằng phía trước là ngày đất nước thống nhất. Tôi cũng đã phỏng vấn, đã lắng nghe Tướng Hiệu kể về câu chuyện gắn bó với Điện đài, cùng lời nhắn “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa” và rất nhiều ký ức với hành trình hành quân đó. Có lẽ chính điều đó khiến tôi càng thấm thía hơn giá trị của hai chữ độc lập.

Độc lập không tự nhiên mà có.

Tự do cũng không phải món quà được trao sẵn cho một dân tộc.

Đằng sau hai chữ ấy là tuổi trẻ của biết bao con người.

Là những người lính rời gia đình khi tuổi đời còn rất trẻ.

Là những người mẹ tiễn con ra trận.

Là những người vợ chờ chồng.

Là những đứa trẻ lớn lên thiếu bóng cha.

Là những người dân âm thầm nuôi giấu, che chở cho bộ đội.

Và là những người đã nằm lại để đất nước có ngày thống nhất.

Lòng biết ơn của Tướng Hiệu qua tấm bản đồ của Má Sáu Ngẫu

Trong rất nhiều câu chuyện Tướng Hiệu kể về mùa Xuân năm 1975, có một câu chuyện khiến tôi nhớ mãi: câu chuyện về “Má Sáu Ngẫu và tấm bản đồ đô thành Sài Gòn”. Đó là một câu chuyện nhỏ trong một chiến dịch lớn, nhưng càng nghĩ, tôi càng thấy nó chứa đựng cả một bài học về sức mạnh của tình quân dân. Đêm 29 tháng 4 năm 1975, Tướng Hiệu cùng các cán bộ chỉ huy và tổ trinh sát tìm đến cơ sở cách mạng của Má Sáu Ngẫu ở vùng Lái Thiêu. Trong thời khắc chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng, thông tin về địa hình, các vị trí phòng thủ và những chướng ngại trên đường tiến vào Sài Gòn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Má Sáu mang ra một tấm bản đồ đô thành Sài Gòn mà má đã gìn giữ. Trên tấm bản đồ ấy có những thông tin, những vị trí mà má biết và ghi nhớ.

Tấm bản đồ ấy không phải một tài liệu quân sự chính thức.

Nó là tấm bản đồ của một người dân.

Nhưng trong thời khắc lịch sử ấy, nó trở thành một tài liệu vô cùng quý giá.

Má Sáu đã chỉ cho những người lính những vị trí cần lưu ý trên trục đường 13, những địa điểm phòng thủ, cầu Vĩnh Bình và những nơi quan trọng trên đường tiến vào Sài Gòn.

Tôi đặc biệt xúc động khi nghe Tướng Hiệu kể về cuộc gặp ấy.

Bởi nếu chỉ nhìn tấm bản đồ như một hiện vật lịch sử, chúng ta sẽ thấy đó là một mảnh giấy.

Nhưng nếu đặt nó vào đêm 29 tháng 4 năm 1975, chúng ta sẽ hiểu nó còn là một biểu tượng.

Đó là trí nhớ của nhân dân trao cho người lính.

Đó là sự tin cậy giữa người dân và những người đang chiến đấu vì một mục tiêu chung.

Đó là tình quân dân đã được thử thách qua những năm tháng gian nan nhất.

Và cũng chính từ tấm bản đồ ấy, tôi hiểu thêm một điều: trong chiến tranh, có những chiến thắng được tạo nên từ những điều rất lớn, nhưng cũng có những bước ngoặt đến từ một căn nhà nhỏ, một người mẹ và một tấm bản đồ được gìn giữ bằng lòng yêu nước.

Một lời hứa được gìn giữ suốt đời

Có một chi tiết trong câu chuyện về Má Sáu Ngẫu khiến tôi càng kính trọng Tướng Hiệu. Sau khi trao tấm bản đồ và giúp những người lính có thêm thông tin về địa bàn, Má Sáu cùng các con muốn đi theo đoàn quân để dẫn đường. Nhưng Tướng Hiệu không để những người con còn nhỏ của má đi vào nơi nguy hiểm, và cũng không muốn má lớn tuổi phải đối mặt với trận chiến. Tướng Hiệu cảm ơn má và hẹn sau khi chiến đấu xong sẽ quay trở lại thăm. Đó là một chi tiết rất nhỏ. Nhưng với tôi, nó nói lên rất nhiều điều về người chỉ huy. Một vị tướng có thể đưa ra những quyết định lớn trên chiến trường, nhưng vẫn phải biết bảo vệ những người dân đã giúp mình. Và lời hứa ấy, Tướng Hiệu đã giữ. Sau ngày 30 tháng 4, ông trở lại Lái Thiêu để thăm và cảm ơn Má Sáu. Sau này, mỗi dịp kỷ niệm ngày đất nước thống nhất, ông vẫn trở lại thăm má và gia đình. Má Sáu mất năm 1989, Tướng Hiệu khi ấy đang công tác ở nước ngoài. Khi trở về, ông vẫn đau đáu với lời tri ân. Ông nhờ khắc bia, mang vào Bình Dương và cùng gia đình xây phần mộ cho má.

Chưa bao giờ và chưa năm nào cho đến bây giờ Tướng Hiệu quên lời hứa đó để luôn trở về đều đặn. Tấm bản đồ sau đó được Tướng Hiệu gìn giữ cẩn thận và trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Tôi nghĩ, đó không chỉ là câu chuyện của một người lính nhớ một người mẹ.

Đó là câu chuyện về đạo lý của một thế hệ.

Họ đi qua chiến tranh nhưng không quên những người đã giúp mình.

Họ chiến thắng nhưng không quên những người đã góp phần làm nên chiến thắng.

Và khi thời gian đã đi qua rất xa, họ vẫn trở lại.

Để thắp một nén hương.

Để cúi đầu trước một người mẹ.

Để nói một lời cảm ơn.

Có những lời cảm ơn không bao giờ cũ.

Sau này tôi có làm phim về Tướng Hiệu với tấm bản đồ Má trao được phát sóng trong chuyên mục Phim tài liệu của Đài Hà Nội. Bộ phim thu hút rất nhiều sự quan tâm và để thế hệ hôm nay, thế hệ của chúng tôi hiểu về những gian khó cha ông đi trước, để biết ơn và sống có trách nhiệm hơn với từng việc nhỏ mình làm.

Mảnh dù 18 chéo và món nợ với đồng đội 

Nếu Vị tướng với mùa thu vàng cho tôi thấy một Tướng Hiệu với những dấu ấn tri thức, tình cảm và những mối duyên đẹp với nước Nga, thì Vị tướng với tấm lòng tri ân, phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, lại đưa tôi đến gần hơn với phần sâu lắng nhất trong tâm hồn ông. Để thực hiện bộ phim, tôi đã đi cùng Tướng Hiệu đến nhiều nơi, gặp lại những người đồng đội, những nhân chứng của một thời chiến tranh. Tôi được nghe những câu chuyện về những năm tháng mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Nhưng có một hình ảnh khiến tôi nhớ mãi. Đó là mảnh dù được chia thành 18 mảnh ghép, trên đó có những cái tên được thêu dở dang. Những người đồng đội lần lượt hy sinh. Và cuối cùng, chỉ còn lại Tướng Hiệu. Tên ông – Nguyễn Huy Hiệu – vẫn còn đó, nhưng đường thêu chưa hoàn tất. Tôi đứng trước mảnh dù ấy và lần đầu tiên cảm nhận rõ đến vậy một nỗi niềm mà có lẽ không thể diễn tả hết bằng lời. Một người trở về từ chiến tranh không có nghĩa là chiến tranh đã kết thúc trong tâm hồn họ.

Có những người đồng đội đã nằm lại.

Có những lời hẹn không bao giờ thực hiện được.

Có những cái tên chỉ còn tồn tại trong ký ức.

Và có những người sống tiếp với một món nợ không bao giờ muốn trả hết – món nợ với những người đã hy sinh.

Tướng Hiệu luôn thấy mình còn nợ đồng đội.

Và có lẽ chính từ món nợ ấy mà một hành trình tri ân đã được ông lặng lẽ thực hiện qua năm tháng.

Hằng năm, Tướng Hiệu và phu nhân lại trở về Quảng Trị. Trở về với những đồng đội, với những gia đình còn mang trong lòng những mất mát của chiến tranh; đến những nơi tri ân, thăm hỏi, tặng quà cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Tôi đi cùng ông và hiểu rằng: Tri ân không phải là một nghi lễ. Tri ân là một cách sống.

 
 
 
 
Tin liên quan
Từ khoá:

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...