
Thượng tướng, Viện sĩ, Anh hùng LLVTND Nguyễn Huy Hiệu (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) và Đại tá, Nhà văn Trần Thế Tuyển (nguyên Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng) trong khoảnh khắc hội ngộ.
Chúng tôi cùng quê Hải Hậu, cùng sinh ra bên dòng sông Sẻ, cùng lớn lên giữa những cánh đồng và những lò vôi ngày đêm đỏ lửa. Quê tôi ngày ấy nghèo. Những ngôi nhà thấp, những con đường đất, những cánh đồng chạy dài và dòng sông Sẻ lặng lẽ chảy qua năm tháng.
Chẳng ai trong chúng tôi khi còn nhỏ biết rằng từ cái vùng quê chiêm trũng ấy, có những người sẽ đi vào chiến tranh, đi qua những chiến trường khốc liệt nhất, rồi trở thành những người chỉ huy cấp cao của quân đội.
Anh Hiệu đi trước tôi vài năm. Khi tôi còn là học sinh Trường cấp 3 Hải Hậu, đã nghe tên Đại đội trưởng Nguyễn Huy Hiệu. Không phải nghe từ một bản lý lịch.
Mà nghe từ những câu chuyện về chiến trường.
Người ta kể về một người đại đội trưởng trẻ, gan dạ, mưu trí, chiến đấu quyết liệt ở Quảng Trị. Những cái tên Cồn Tiên, Dốc Miếu, Gio Linh… lúc ấy với một cậu học sinh như tôi vừa xa xôi vừa dữ dội. Tôi chỉ biết đó là những nơi chiến tranh đang diễn ra và ở đó có những người lính quê mình. Trong số những cái tên được nhắc đến, có Nguyễn Huy Hiệu. Tôi chưa từng gặp anh.
Nhưng cái tên ấy trước khi gặp anh đã đi vào ký ức của tôi.
Rồi năm 1970, tôi vào bộ đội. Từ một học sinh, tôi thành người lính. Và một lần nữa, tôi gặp cái tên Nguyễn Huy Hiệu, lần này trên những trang báo. Anh được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Người lính trẻ Trần Thế Tuyển đọc tên người đồng hương và có một cảm giác rất lạ: vừa gần, vừa xa.
Gần vì cùng một quê.
Xa vì anh đã là người chỉ huy trận mạc, còn tôi mới bước vào cuộc chiến.
Nhưng chiến tranh có cách riêng của nó để kéo những con người xa lạ lại gần nhau.
Nhiều năm sau, tôi mới hiểu điều đó. Người anh tôi biết sau chiến tranh
Phải đến những năm đầu thập niên 1990, tôi và anh mới thực sự gặp nhau. Khi ấy tôi công tác tại Báo Quân đội nhân dân, ở Ban Đại diện phía Nam. Một ngày, anh tìm đến. Lúc đó anh đã là Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng.
Còn tôi chỉ là một nhà báo.
Nhưng giữa chúng tôi có hai tiếng gọi bình đẳng hơn tất cả những chức danh: đồng hương và đồng đội. Anh đến không phải để nói chuyện chức vụ. Anh rủ tôi đi thăm một người mẹ. Đó là má Sáu Ngẫu - “Bà Má Tham mưu” của Trung đoàn 27.
Tôi còn nhớ cái cảm giác của mình khi nghe anh kể về má. Giọng anh khác hẳn khi nói về những trận đánh.
Chậm hơn. Ấm hơn. Và có cái gì đó như một món nợ.
Anh kể, trong những ngày cuối tháng 4-1975, khi Trung đoàn 27 chuẩn bị tiến vào Sài Gòn, má Sáu đã cung cấp cho bộ đội một tấm bản đồ do chính má vẽ và ghi chú, chỉ rõ những vị trí quan trọng của địch ở khu vực Lái Thiêu, trong đó có trại Huỳnh Văn Lương.
Một tấm bản đồ. Với người làm quân sự, đó là thông tin.
Với người lính, đó có thể là sinh mạng. Với má Sáu, đó là tất cả những gì má có thể làm cho bộ đội.
Tôi đi cùng anh lên thăm má. Chuyến đi ấy, bây giờ nhìn lại, có lẽ là một trong những dấu mốc quan trọng nhất để tôi hiểu Nguyễn Huy Hiệu.
Tôi hiểu anh không chỉ qua những chiến công được ghi trong sử sách. Tôi hiểu anh qua cách một vị tướng trở về với người mẹ đã giúp mình trong chiến tranh.
Người ta có thể quên một trận đánh. Nhưng khó quên một người mẹ. Tôi nhìn anh khi đứng trước má Sáu và chợt nghĩ: người đại đội trưởng , người trung đoàn trưởng năm nào, người anh hùng năm nào, người tư lệnh hôm nay, trước người mẹ này vẫn là một người lính. Một người con. Có lẽ đó là điều lớn nhất của tình đồng đội, tình quân dân.
Nó vượt qua quân hàm.
Vượt qua chức vụ.
Vượt qua thời gian.
Và vượt qua cả chiến tranh.
Từ đồng hương thành đồng hành
Sau chuyến đi ấy, tôi và anh gắn bó. Tôi thường nói vui: với anh Hiệu, tôi có hai “chức danh” quan trọng hơn cả nghề báo. Một là người cùng quê. Hai là người lính.
Sau này anh được bổ nhiệm Phó Tổng Tham mưu trưởng, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, mỗi lần có chuyến công tác ở phía Nam, anh thường báo cho tôi.
-“ Có đi không?”
Chỉ một câu ấy thôi. Tôi hiểu. Và đi.
Có những chuyến đi mà bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình đã may mắn được chứng kiến một phần đời khác của người lính Nguyễn Huy Hiệu.
Chúng tôi đi vùng lũ đồng bằng sông Cửu Long. Đi Phú Quốc. Đi những trọng điểm bão lũ thuộc Quân khu 7, Quân khu 9.
Có khi đi máy bay. Có khi trực thăng. Có khi tàu thủy Hải quân. Nhưng phần nhiều là ô tô. Rồi xuống xe, đi bộ. Có những nơi xe không thể vào. Có những vùng nước ngập đến tận nhà dân.
Ở đó, tôi không thấy một vị tướng chỉ đứng chỉ tay. Tôi thấy anh hỏi. Hỏi dân. Hỏi cán bộ địa phương. Hỏi bộ đội. Hỏi người phụ trách cứu hộ. Hỏi xem chỗ nào còn dân mắc kẹt. Hỏi phương tiện đã đến chưa. Hỏi lương thực đã tới chưa…
Những câu hỏi tưởng như rất nhỏ ấy lại cho thấy một điều rất lớn: người chỉ huy luôn nghĩ đến con người cụ thể. Đó cũng là lúc tôi hiểu vì sao sau này anh quan tâm sâu đến công tác phòng, chống thiên tai và môi trường, đặc biệt là phương châm “bốn tại chỗ”.
Chiến tranh đã cho anh bài học về tốc độ. Chiến trường cho anh bài học về chủ động. Còn thiên tai cho anh bài học về sự sống. Trong chiến tranh, chậm một phút có thể mất một người lính.
Trong thiên tai, chậm một giờ có thể mất một mạng dân. Tôi nghĩ, có lẽ từ những trải nghiệm ấy, tư duy quân sự của anh đã chuyển hóa thành một cách ứng xử với đời sống. Không phải chỉ huy để chiến thắng một trận đánh. Mà tổ chức lực lượng để giảm thiệt hại cho nhân dân.
Tôi thích nhìn anh khi không có quân hàm. Những cuộc đi với anh giúp tôi nhận ra một điều: Muốn hiểu một con người, đừng chỉ nhìn họ khi họ đang ở vị trí quyền lực.
Hãy nhìn họ lúc không có bục diễn đàn. Không có lễ nghi. Không có cấp dưới đứng quanh. Không có những câu chào theo quân hàm.
Những lúc như thế, con người thật dễ hiện ra hơn.
Tôi đã nhìn thấy anh Hiệu như vậy trong những cuộc gặp đồng hương Hải Hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Chúng tôi mời anh và chị Lại Thị Xuân - vợ anh tham gia các hoạt động của Hội đồng hương và Ban Liên lạc cựu học sinh Trường cấp 3 Hải Hậu. Chị Xuân là bác sĩ, cũng là cựu học sinh của trường. Hai anh chị tham gia rất nhiệt tình. Ở những cuộc gặp ấy, anh không còn là Thượng tướng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng”. Anh là anh Hiệu. Là người Hải Hậu. Là người đồng hương.
Có khi anh ngồi giữa những người bạn cùng quê, nói chuyện quê nhà hàng giờ.
Chuyện người này. Chuyện người kia. Chuyện thầy cô.
Chuyện trường cũ. Chuyện đồng đội. Chuyện những người đã nằm lại.
Tôi để ý một điều: anh thường nhớ người. Nhớ tên. Nhớ quê. Nhớ đơn vị. Nhớ một trận đánh. Nhớ một người đã giúp bộ đội. Nhớ một người đã hy sinh. Có những cái nhớ tưởng bình thường nhưng thực ra không bình thường. Bởi ký ức của một vị tướng về chiến tranh không chỉ là ký ức về những chiến thắng.
Đó còn là ký ức về những lần “ phơi áo”- những người không trở về.
Một đời người lính không khép lại ở ngày nghỉ hưu
Khi anh đến tuổi nghỉ hưu, chúng tôi vẫn gắn bó. Tôi từng nghĩ, nghỉ hưu đối với một vị tướng có nghĩa là khép lại một chặng đường.
Nhưng với anh Hiệu thì không. Anh vẫn làm việc.
Vẫn nghiên cứu. Vẫn đi. Vẫn viết. Vẫn gặp đồng đội. Vẫn trở về những chiến trường xưa. Vẫn quan tâm đến những vấn đề của đất nước.
Tôi nhận ra có những người mặc quân phục vì nhiệm vụ.
Nhưng có những người đã mang tinh thần người lính vào trong máu. Họ không thể “nghỉ” được. Bởi với họ, chiến tranh kết thúc không có nghĩa là trách nhiệm kết thúc. Sau chiến tranh là một chiến trường khác. Chiến trường của ký ức. Chiến trường của nghĩa tình.
Chiến trường của việc tìm kiếm đồng đội. Giữ gìn lịch sử. Giáo dục thế hệ sau.
Và trả lại cho những người đã hy sinh vị trí xứng đáng trong ký ức dân tộc.
Anh Hiệu thuộc về những người ấy. Từ mối quan hệ với các tướng lĩnh, đồng đội như Lê Nam Phong, Lê Văn Dũng, với má Sáu Ngẫu và những người lính Trung đoàn 27…, anh vẫn giữ cho mình một sợi dây không đứt với “Một thời Quảng Trị”.
Tôi gọi đó là ký ức có trách nhiệm. Bởi ký ức nếu chỉ để nhớ thì chưa đủ. Ký ức phải được truyền lại. Một trận đánh phải có người kể.
Một người đã hy sinh phải có người nhớ. Một người mẹ từng giúp bộ đội phải được gọi đúng tên. Một vùng đất từng thấm máu phải được thế hệ sau biết đến.
Có lẽ đó là lý do sau khi rời quân ngũ, anh vẫn miệt mài với những việc tưởng như không thuộc về một chức vụ nào. Nhưng lại thuộc về một món nợ.
Từ dòng sông Sẻ đến Cồn Tiên
Có lần tôi tự hỏi: điều gì nối một cậu bé Hải Hậu ngày nào với một vị tướng hôm nay? Tôi nghĩ mãi rồi nhận ra: đó chính là quê hương.
Nguyễn Huy Hiệu đi từ dòng sông Sẻ đến Quảng Trị.
Từ những cánh đồng Hải Long- Hải Hậu đến Cồn Tiên, Dốc Miếu.
Từ một người lính trẻ đến người chỉ huy cấp cao của quân đội. Nhưng càng đi xa, cái gốc quê hương trong anh càng hiện rõ.
Tôi không nghĩ đó là một sự hoài niệm đơn thuần. Người lính đi qua chiến tranh thường hiểu quê hương theo một nghĩa rộng hơn. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Quê hương còn là nơi có những người mình chiến đấu để bảo vệ. Là người mẹ đã trao tấm bản đồ cho bộ đội. Là đồng đội đã nằm lại. Là những cánh đồng không còn tiếng súng.
Là những dòng sông được trở về với sự bình yên.
Có lẽ vì vậy mà tôi chưa bao giờ thấy anh Hiệu tách mình khỏi nhân dân. Một vị tướng trưởng thành từ chiến tranh mà vẫn giữ được tình cảm gần gũi với dân, với đồng đội, với quê hương - đó là điều không dễ.
Một dòng họ, một đất nước
Anh Hiệu là hậu duệ của Nguyễn Bặc, vị tướng nổi tiếng của nhà Đinh ở thế kỷ X. Tôi từng nghĩ về điều ấy trong những lần ngồi với anh. Người ta thường nói về dòng họ bằng niềm tự hào.
Nhưng tôi thấy ở anh một thứ khác: ý thức về trách nhiệm. Dòng họ có truyền thống thì người sau càng phải sống sao cho không hổ thẹn với người trước.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu trong chuyến thăm hỏi ân tình.
Tôi không thấy anh dùng nguồn cội ấy để làm mình lớn hơn. Trái lại, càng biết về nguồn cội, tôi càng thấy anh tự đặt cho mình một chuẩn mực cao hơn. Có lẽ đó là cách một con người tiếp nhận truyền thống đúng nghĩa. Không phải đứng trên truyền thống. Mà đứng trong truyền thống. Không phải lấy tên tuổi người xưa làm vốn. Mà làm việc để người sau có thể nhắc đến mình bằng sự trân trọng.
Dấu ấn còn lại
Tôi đã làm báo nhiều năm.
Đã gặp nhiều vị tướng. Đã viết về nhiều người lính.
Nhưng tôi nghĩ, một bài viết về Nguyễn Huy Hiệu không nên bắt đầu bằng quân hàm, chức vụ. Bởi quân hàm chức vụ chỉ nói anh đã đứng ở đâu trong hệ thống. Không nói hết anh là người thế nào. Tôi muốn bắt đầu bằng dòng sông Sẻ. Bởi ở đó có cội nguồn. Tôi muốn nhắc đến Cồn Tiên, Dốc Miếu, Lái Thiêu. Bởi ở đó có tuổi trẻ và chiến tranh. Tôi muốn nhắc đến má Sáu Ngẫu.
Bởi ở đó có tình quân dân.
Tôi muốn nhắc đến những chuyến đi vùng lũ. Bởi ở đó có một người lính chuyển từ cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc sang cuộc chiến bảo vệ nhân dân trước thiên tai.
Tôi muốn nhắc đến những cuộc gặp đồng hương. Bởi ở đó, một vị tướng trở về với tiếng gọi giản dị nhất: đồng hương. Và tôi muốn nhắc đến những năm tháng sau khi anh nghỉ hưu. Bởi ở đó có câu trả lời cho câu hỏi: một người lính sẽ làm gì khi chiến tranh đã lùi xa?
Anh vẫn đi tìm đồng đội.
Vẫn nhớ những người đã khuất. Vẫn trở về với những vùng đất cũ. Vẫn làm những việc mà không ai buộc phải làm, nhưng lương tâm người lính thôi thúc phải làm.
Đó là dấu ấn tôi nhìn thấy ở Nguyễn Huy Hiệu. Một người con nặng nghĩa với quê hương. Một người lính Cụ Hồ được tôi luyện trong lửa đạn. Một vị tướng- người chỉ huy trưởng thành từ chiến trường. Một nhà khoa học quân sự đem kinh nghiệm của chiến tranh vào việc bảo vệ con người trong hòa bình. Một vị tướng mang trong mình truyền thống của một dòng họ có lịch sử lâu đời. Và trên hết, một người cựu chiến binh không rời khỏi đội ngũ ngay cả khi đã rời quân ngũ.
Bây giờ, mỗi khi nhớ về anh Hiệu, tôi không nghĩ trước hết đến những chức vụ anh từng giữ. Tôi nhớ một người anh đồng hương. Tôi nhớ một người lính. Tôi nhớ những chuyến đi. Nhớ những lần anh gọi điện báo có việc ở phía Nam. Nhớ những lần cùng nhau xuống vùng lũ. Nhớ những buổi gặp đồng hương Hải Hậu.
Nhớ cách anh nói về đồng đội. Và nhớ nhất cái lần đầu tiên anh tìm tôi ở Ban Đại diện Báo Quân đội nhân dân.
Anh không nói nhiều. Chỉ rủ tôi đi thăm má Sáu Ngẫu.
Nhưng chuyến đi ấy đã mở ra hơn ba mươi năm một mối quan hệ mà tôi luôn trân trọng.
Từ đó tôi hiểu thêm một điều: Một vị tướng có thể được lịch sử ghi nhớ bằng những chiến công. Nhưng một con người được những người chung quanh nhớ bằng cách sống.
Chiến công làm nên tên tuổi. Còn nghĩa tình làm nên chiều sâu của một con người. Nguyễn Huy Hiệu, trong ký ức của tôi, trước hết là một người như thế.
Từ dòng sông Sẻ quê nhà, anh đã đi qua một hành trình rất dài của đất nước.
Qua chiến tranh. Qua hòa bình. Qua những chức vụ. Qua những năm tháng tuổi trẻ và tuổi già. Có ba điều tôi thấy anh chưa bao giờ rời bỏ: Quê hương. Đồng đội. Nhân dân.
Có lẽ đó cũng là ba điểm tựa làm nên dấu ấn của một người lính. Và khi nói về anh, tôi không muốn gọi đó chỉ là dấu ấn của một vị tướng.
Bởi phía sau vị tướng ấy vẫn là cậu bé Hải Hậu năm nào, từ một miền quê bên dòng sông Sẻ bước ra với đất nước. Một người con của quê hương. Một người lính của thời đại Hồ Chí Minh.
Một người anh mà tôi may mắn được biết, được đi cùng và được chứng kiến một phần hành trình.
Đó là dấu ấn vị tướng mà tôi từng biết.
Sài Gòn, tháng 9-2026
Bình luận bài viết