Hà Nội
Thứ 2, 04/05/2026
Nhiều mây
24°C

Doanh nghiệp sử dụng thương binh, bệnh binh được miễn thuế thu nhập: Hiểu đúng để không “trượt” chính sách

04/05/2026 10:01
3:12
Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái Hiệp hội Doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật Việt Nam, có thể khẳng định rằng, chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở sử dụng lao động là thương binh, bệnh binh là một chủ trương đúng đắn, mang tính nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên, giữa tinh thần chính sách và khả năng tiếp cận trên thực tế vẫn tồn tại những khoảng cách nhất định, mà nếu không được nhận diện rõ, rất dễ dẫn đến cách hiểu đơn giản hóa hoặc thậm chí sai lệch.

Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp thuộc hệ sinh thái Hiệp hội Doanh nghiệp của thương binh và người khuyết tật Việt Nam, có thể khẳng định rằng, chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở sử dụng lao động là thương binh, bệnh binh là một chủ trương đúng đắn, mang tính nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên, giữa tinh thần chính sách và khả năng tiếp cận trên thực tế vẫn tồn tại những khoảng cách nhất định, mà nếu không được nhận diện rõ, rất dễ dẫn đến cách hiểu đơn giản hóa hoặc thậm chí sai lệch.

Theo khoản 5 Điều 4 Nghị định 320/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh khi có từ 30% số lao động bình quân trong năm trở lên là người khuyết tật, trong đó bao gồm cả thương binh, bệnh binh, đồng thời tổng số lao động phải đạt từ 20 người trở lên và không thuộc lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản. Quy định này về mặt định hướng là rõ ràng: Nhà nước chấp nhận giảm nguồn thu ngân sách để đổi lấy việc khu vực doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, để được miễn thuế, doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc “có sử dụng” lao động là thương binh, bệnh binh, mà phải đạt ngưỡng và điều kiện cụ thể. Trước hết, số lao động là người khuyết tật, bao gồm cả thương binh, bệnh binh, phải chiếm từ 30% trở lên trên tổng số lao động bình quân trong năm. Đồng thời, tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp phải đạt từ 20 người trở lên. Đây là điều kiện mang tính định lượng, phản ánh mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp trong việc tạo việc làm cho nhóm lao động đặc thù. Đây là một yêu cầu rất cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải có mô hình sản xuất phù hợp, có khả năng tổ chức công việc, bố trí dây chuyền và điều kiện lao động tương thích với sức khỏe, khả năng của người lao động. Với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp hoặc dịch vụ có cường độ cao, việc duy trì ổn định tỷ lệ này không chỉ là bài toán nhân sự, mà còn là bài toán về chi phí, năng suất và quản trị.

Điều 4 Khoản 5 Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày ngày 15 tháng 12 năm 2025 về QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU VÀ BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC, HƯỚNG DẪN THI HÀNH LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

----------

5. Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp có từ 30% số lao động bình quân trong năm trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma túy, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và có số lao động bình quân trong năm từ 20 người trở lên, không bao gồm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản.

a) Doanh nghiệp được miễn thuế quy định tại khoản này đáp ứng các điều kiện sau:

a1) Đối với doanh nghiệp có sử dụng lao động là người khuyết tật (bao gồm cả thương binh, bệnh binh), lao động là người nhiễm HIV/AIDS thì lao động là người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS phải có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

a2) Đối với doanh nghiệp có sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma túy thì lao động là người sau cai nghiện ma túy phải có giấy chứng nhận hoàn thành cai nghiện của các cơ sở cai nghiện hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền liên quan;

Theo quy định tại điểm a1 khoản 5 Điều 4 Nghị định 320/2025/NĐ-CP, lao động là người khuyết tật, bao gồm cả thương binh, bệnh binh, phải có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền. Nếu chỉ đọc quy định này một cách máy móc, không ít doanh nghiệp hiểu rằng, mỗi trường hợp lao động là thương binh, bệnh binh đều phải xuất trình riêng biên bản giám định y khoa – tức là tài liệu chuyên môn do hội đồng giám định cấp. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phản ánh đúng bản chất của hệ thống pháp luật về người có công.

Đặt quy định trên trong mối liên hệ với Nghị định 131/2021/NĐ-CP sẽ thấy rõ hơn vấn đề. Theo các quy định của Nghị định này, để một cá nhân được công nhận là thương binh hoặc bệnh binh, bắt buộc phải trải qua quy trình giám định y khoa nhằm xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động. Kết quả giám định này không tồn tại như một giấy tờ “độc lập” trong đời sống pháp lý, mà là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định công nhận và cấp thẻ thương binh, bệnh binh.

Nói cách khác, về bản chất pháp lý, thẻ thương binh, bệnh binh chính là “kết tinh” của toàn bộ quá trình giám định y khoa và xác nhận hành chính. Khi thẻ đã được cấp, điều đó đồng nghĩa với việc người lao động đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thẩm định và công nhận đầy đủ các yếu tố, trong đó có kết luận giám định y khoa. Vì vậy, từ góc độ thực tiễn, doanh nghiệp sử dụng lao động hoàn toàn có cơ sở để sử dụng thẻ này như một tài liệu chứng minh thay cho việc phải xuất trình lại biên bản giám định y khoa riêng lẻ.

Chính vì vậy, trong quá trình lập hồ sơ hưởng ưu đãi thuế theo Nghị định 320/2025/NĐ-CP, nhiều doanh nghiệp lựa chọn lưu giữ bản sao thẻ thương binh, bệnh binh kèm theo quyết định hưởng chế độ như một bộ hồ sơ pháp lý tối thiểu. Cách làm này không chỉ phù hợp với logic của hệ thống pháp luật mà còn giúp giảm đáng kể chi phí hành chính, bởi việc tiếp cận lại hồ sơ giám định y khoa gốc trong nhiều trường hợp là không đơn giản, đặc biệt với những người đã được công nhận từ nhiều năm trước.

Doanh nghiệp sử dụng thương binh, bệnh binh được miễn thuế thu nhập: Hiểu đúng để không “trượt” chính sách
Hiệp hội Doanh nghiệp của Thương binh và Người khuyết tật Việt Nam (VAIDE) là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hoạt động trên phạm vi toàn quốc nhằm bảo vệ quyền lợi, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và tạo việc làm cho thương bệnh binh, người khuyết tật.

Một điểm cần được nhấn mạnh là phạm vi miễn thuế. Khoản 5 Điều 4 Nghị định 320/2025/NĐ-CP chỉ áp dụng miễn thuế đối với phần thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều đó có nghĩa, nếu doanh nghiệp có thêm các nguồn thu từ hoạt động tài chính, đầu tư hoặc các khoản thu khác ngoài ngành nghề chính, thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định. Đồng thời, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính hoặc kinh doanh bất động sản cũng không thuộc diện được áp dụng chính sách này.

Chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp sử dụng thương binh, bệnh binh là một cơ chế mang tính khuyến khích có chọn lọc. Đối với những doanh nghiệp thực sự xây dựng mô hình sản xuất gắn với lực lượng lao động đặc thù, đây là một sự hỗ trợ thiết thực, góp phần giảm chi phí, nâng cao khả năng duy trì việc làm ổn định cho người lao động. 

Chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp sử dụng lao động là thương binh, bệnh binh là cần thiết, nhưng chưa đủ. Điều doanh nghiệp cần không chỉ là ưu đãi về thuế, mà còn là sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan quản lý, sự hướng dẫn cụ thể, kịp thời để giảm thiểu rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện.

Nhìn một cách tổng thể, chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với cơ sở sử dụng thương binh, bệnh binh đã có, hành lang pháp lý đã tương đối đầy đủ. Vấn đề còn lại là làm thế nào để chính sách ấy đi vào cuộc sống một cách thực chất, để những doanh nghiệp đang ngày ngày tạo việc làm cho thương binh, bệnh binh không chỉ được ghi nhận về mặt tinh thần, mà còn được bảo đảm quyền lợi một cách rõ ràng,

Tin liên quan

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...