Sinh ra vào những năm đầu của thế kỷ 21, thế hệ trẻ chúng tôi lớn lên khi khói lửa chiến tranh đã lùi xa. Quê hương Quảng Trị trong mắt tôi là màu xanh của bạt ngàn cao su, là gió Lào cát trắng, là những buổi chiều thanh bình bên bờ sông Thạch Hãn. Thế nhưng, chúng tôi luôn thấu hiểu rằng ẩn dưới lòng đất hiền hòa ấy là một thời mùa hè đỏ lửa bi tráng.
Trong vô vàn những câu chuyện lịch sử tôi từng được nghe, hình ảnh về Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Huy Hiệu - người được nhân dân thương mến gọi là “Vị tướng của Quảng Trị”, luôn gắn liền với những trang sử oanh liệt và không thể phai mờ của mảnh đất này. Dù quê gốc ở Hải Hậu, Nam Định, nhưng ông đã dành trọn thanh xuân cho vùng đất lửa, coi Quảng Trị như quê hương thứ hai của mình, nơi tình sâu nghĩa nặng và máu xương đồng đội đã hòa vào đất mẹ.
Ở độ tuổi mười tám, đôi mươi, ông đã gác lại bút nghiên để tình nguyện bước vào cuộc chiến khốc liệt nhất. Chàng thanh niên ấy đã vinh dự đi qua 4 chiến dịch lớn mang tính bước ngoặt của dân tộc: Mậu Thân năm 1968, Đường 9 - Nam Lào năm 1971, chiến dịch năm 1972 (trực tiếp mở màn giải phóng hai huyện Hải Lăng, Triệu Phong, góp phần giải phóng Quảng Trị ngày 1/5/1972), và đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện trọn vẹn lời thơ chúc Tết năm 1969 của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”.
Trong suốt chặng đường oanh liệt đó, ông đã trực tiếp tham gia 67 trận đánh lớn nhỏ và trở thành Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới vừa tròn 26 tuổi. Những cái tên như Cồn Tiên, Dốc Miếu, Sáp Đá Mài, hay căn cứ Fuller (Điểm cao 544) có thể với thế hệ trẻ ngày nay chỉ là những địa danh trên bản đồ du lịch hoài niệm, nhưng với Tướng Hiệu, đó là nơi tuổi trẻ của ông rực cháy, là nơi ông cùng Trung đoàn 27 - Trung đoàn Triệu Hải anh hùng lập nên những chiến công hiển hách.
Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1973.
Điều khiến một người trẻ như tôi thực sự kính phục không chỉ là tài cầm quân xuất chúng, mà là trái tim đầy tính nhân văn của một người chỉ huy. Ông luôn khắc ghi lời dặn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Người chỉ huy đánh giỏi là phải giảm thương vong thấp nhất”. Ký ức chiến tranh trong ông không chỉ có niềm vui chiến thắng mà còn là nỗi đau xé lòng khi phải để lại đồng đội. Tình gắn bó sinh tử ấy được khắc sâu qua câu chuyện về tấm dù hoa ở Cồn Tiên năm 1968. Mười tám anh em chia nhau mỗi người một mảnh dù, thêu tên mình lên đó để nếu hy sinh, tấm dù không mục nát sẽ giúp nhận dạng. Và rồi, mười bảy người đã ngã xuống, chỉ còn lại mình ông mang theo mảnh dù mang tên Nguyễn Huy Hiệu như một kỷ vật thiêng liêng, đau xót nhất đời mình.
Tấm dù - Kỷ vật vô giá của Tướng Hiệu.
Sự nhân văn của vị tướng ấy không chỉ dừng lại ở tình đồng đội, mà còn là sự trân trọng, gắn bó máu thịt với nhân dân. Gần đây, khi nghe lại lời kể của bà Nguyễn Thị Nghệ, nguyên Đội trưởng đội công tác tại Phong Điền (Thừa Thiên Huế), tôi lại càng thấm thía hơn về nhân cách của ông. Năm 1972, người nữ du kích ấy dù không biết bơi vẫn dũng cảm vượt phá Tam Giang trong đêm tối, xuyên qua hàng rào ấp chiến lược để đưa tài liệu mật cho đơn vị của Tướng Hiệu. Gặp gỡ giữa chiến trường ác liệt, vị chỉ huy trẻ lúc bấy giờ đã ngỡ ngàng thốt lên: "Cô sao mà gan thế!". Nhờ sự gan dạ dẫn đường trinh sát suốt 3 đêm liền của bà Nghệ, đơn vị của ông đã giải phóng đồn Thanh Hương chỉ trong một tiếng đồng hồ.
Nhưng điều làm tôi xúc động nhất là tấm lòng “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của Tướng Hiệu sau ngày hòa bình. Dù công tác bận rộn, ông vẫn cất công liên lạc với chính quyền địa phương để tìm lại bà Nghệ. Ông đã đích thân về thăm căn nhà nhỏ của bà ở Huế, chứng kiến cuộc sống đời thường còn nhiều vất vả của người đồng chí cũ. Nhận xét về người chỉ huy năm xưa, bà Nghệ rưng rưng: “Bác ấy rất giản dị, rất tình cảm. Dù là một Thượng tướng cao cả, nhưng bác luôn gần gũi nhân dân, mang tư tưởng sống vì dân, chết cũng vì dân”.
Tướng Hiệu dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9.
Hòa bình lập lại, vị tướng trận mạc ấy không cho phép mình quên đi quá khứ. Cứ mỗi dịp tháng Bảy tri ân, đôi chân của ông lại lặn lội trở về khúc ruột miền Trung. Ông đau đáu khi nhìn thấy hàng vạn hương hồn đồng đội chưa thể quy tập, vĩnh viễn hóa thân vào gạch đá Thành Cổ hay nằm lại dưới đáy sông Thạch Hãn cuộn đỏ. “Tôi chưa bao giờ nghĩ các anh là vô danh, mỗi người đều có tên tuổi, quê hương” - câu nói ấy chạm đến tận cùng cõi lòng.
Để sưởi ấm hương hồn những người lính ngã xuống, ông cùng Ban liên lạc Trung đoàn 27 Mặt trận B5 đã đứng ra tổ chức và kêu gọi các nhà hảo tâm cùng chung tay xây dựng Khu tưởng niệm hơn 2.500 liệt sĩ anh hùng để tri ân và tưởng niệm. Công trình thiêng liêng này được dựng lên tại huyện Triệu Phong cũ (nay là khu vực Ái Tử, Quảng Trị) - ngay trên chính chiến trường ác liệt năm xưa. Những tấm bia đá ấy đã trở thành điểm tựa tâm linh, nơi những người mẹ, người vợ tìm thấy tên người thân mình để được ôm lấy mà khóc, xoa dịu đi nỗi mòn mỏi ngóng trông suốt nửa thế kỷ.
Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu.
Không chỉ dựng bia đá, Tướng Hiệu còn gieo những mầm xanh sự sống xuống mảnh đất từng bị hủy diệt bởi đạn bom. Hàng trăm cây bồ đề, cây sala đã được ông tự tay trồng tại các nghĩa trang liệt sĩ và đền chùa trên cả nước. Đứng dưới bóng cây đa cổ thụ xum xuê tại khuôn viên Thành đội Quảng Trị, chúng tôi mới biết rằng đó là mầm cây nhỏ bé ông mang về từ Ấn Độ và tự tay trồng từ năm 1983. Tán cây vươn rộng ấy như một minh chứng cho sức sống mãnh liệt, sự bền bỉ và hồi sinh của con người và mảnh đất quê hương tôi.
Nhìn nụ cười hiền hậu và đôi chân không mỏi của vị tướng già rảo bước trên quê hương mình, tôi chợt nhận ra: Lịch sử Quảng Trị không chỉ được viết bởi những cá nhân xuất chúng như ông, mà còn được tạc nên bởi một tập thể những con người đã hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân. Qua câu chuyện của người lính già và những kỷ vật thiêng liêng để lại, quá khứ với thế hệ Gen Z chúng tôi không còn là những dòng chữ khô khan ngủ yên trong sách vở. Ở đó, tôi thấy được hàng vạn khuôn mặt của những chiến sĩ vô danh, thấy được tình đồng đội chung lưng đấu cật.
Phỏng vấn Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu tại Quảng Trị.
Hòa bình, tự do mà chúng tôi đang hít thở hôm nay được đổi bằng tuổi thanh xuân của Tướng Hiệu và sinh mệnh của vạn vạn người đi trước, giúp chúng tôi thấm thía tận cùng cái giá của hai chữ bình yên. Bảo vệ hòa bình, học tập bằng cả trí tuệ và trái tim, đồng thời gìn giữ ký ức lịch sử chính là cách thế hệ trẻ chúng tôi tri ân xứng đáng nhất.
Bình luận bài viết