Một mùa xuân không thể nào quên
Sau nhiều ngày điều trị, sức khỏe tôi dần hồi phục. Sáng hôm ấy, như thường lệ, tôi chạy một vòng quanh lán rồi chuẩn bị xuống bếp ăn sáng. Vừa xỏ tay vào chiếc áo treo đầu võng, tôi chợt thấy nhói buốt, theo phản xạ liền kêu lên rồi giật mạnh chiếc áo ném xuống đất. Từ tay áo, một con bọ cạp lớn bằng ngón tay, đuôi cong vút, giương hai càng lao vào góc lán. Tôi nén đau, giẫm chết con vật rồi lấy ruột của nó bôi lên vết đốt theo kinh nghiệm của lính rừng. Sau đó uống ngay một cốc mật ong rừng mang theo trong bình tông. Chẳng bao lâu, cánh tay phải sưng tấy, hai đường gân đỏ chạy dài lên nách, người vã mồ hôi, hoa mắt và buồn nôn. Tôi loạng choạng trở về võng. Anh Thảo, y tá của bệnh viện, ghé qua thăm, lấy thuốc tự chế bôi lên vết thương rồi dặn hộ lý nấu cho tôi bát cháo nhiều hành. Anh cười hóm hỉnh:
"Lính miền Đông ai may mắn mới được thiên nhiên ban tặng loại thuốc kỳ diệu từ nọc bọ cạp."
Tôi nhăn nhó đáp:
"Buốt chết đi được anh ạ. Nếu còn ban nữa thì mời anh nhận." Câu nói khiến cả lán cười ồ.
Nhìn cánh tay còn đau nhức, tôi lại nhớ lần theo anh em vào rừng lấy mật ong khoái. Tổ ong to như cây đàn ghi-ta treo lơ lửng trên cây cao su. Sau khi hun khói và bắn gãy cành, cả đàn ong lao xuống đốt chúng tôi tới tấp. Tôi bị vài chục nốt ở cổ, vai và lưng, sốt nhẹ cả ngày. Nhưng đổi lại, cả đơn vị có một nồi cháo ong non thơm lừng. Anh em vẫn bảo bị ong rừng đốt tốt cho xương khớp. Tôi chỉ cười, nghĩ rằng trong cái rủi vẫn luôn có cái may.

Mùa xuân cũng đến rất nhẹ giữa cánh rừng biên giới. Những hạt sương còn đọng trên cánh lan rừng, mùi hương ngan ngát theo gió lan khắp bệnh viện. Chồi non bắt đầu nhú trên những cành cây khẳng khiu, bầu trời trong xanh hơn sau những ngày đông u ám. Giữa khung cảnh ấy, tôi nhớ nhà da diết. Tôi nhớ làng Bình Đà những ngày giáp Tết, nhớ tiếng pháo, nhớ bố mẹ và cậu em út mới hai tuổi chắc đang lon ton theo các anh chị đi xem đốt pháo thăng thiên. Tôi cũng nhớ những đêm ba mươi Tết được mẹ đun nước nóng trên nồi bánh chưng để cả nhà tắm gội trước giao thừa.
Đêm giao thừa giữa đại ngàn
Đêm ba mươi, tôi được phân công cùng hai nữ y tá trông nồi bánh chưng và bánh tét. Bỗng tiếng máy bay trinh sát OV-10 của địch xuất hiện. Kẻng báo động vang lên. Cả ba vội xúc đất lấp kín bếp lửa đã chuẩn bị sẵn.

Chỉ ít phút, bóng tối bao trùm bệnh viện dã chiến. Giữa rừng, tiếng thú rừng, tiếng chim "Bắt cô trói cột" vọng lại từng hồi. Trong màn đêm tĩnh lặng, tôi cảm nhận rõ hơi thở của hai cô y tá đứng sát bên mình. Một bàn tay khẽ chạm vào tay tôi vì lo lắng, mái tóc còn đẫm sương đêm khẽ lướt qua gò má. Trái tim tuổi hai mươi lần đầu rung lên bởi một cảm xúc thật lạ, vừa trong trẻo, vừa bâng khuâng mà đến tận hôm nay tôi vẫn chưa thể gọi tên. Máy bay bay xa, những quả pháo sáng cuối cùng rơi xuống rồi tắt hẳn. Chúng tôi gạt đất, nhóm lại bếp lửa. Ánh lửa hồng soi gương mặt hai cô gái thêm rạng rỡ. Tôi mỉm cười. Một cô hỏi:
"Anh cười gì thế?"
Tôi đành thú thật:
"Nghe tiếng chim 'Bắt cô trói cột', anh chỉ mong mình là cái cột để... trói hai em vào." Câu nói khiến cả ba cùng cười. Hai cô y tá vừa đỏ mặt vừa véo tôi mấy cái đau điếng. Tiếng cười trong trẻo hòa cùng làn hơi nóng bốc lên từ nồi bánh chưng, bánh tét giữa rừng già tạo nên một đêm giao thừa mà tôi không bao giờ quên.
Gần thời khắc giao thừa, tôi trở về lán, mặc bộ quân phục mới được cấp rồi cùng anh em quây quần bên chiếc radio. Khi giọng đọc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên giữa đại ngàn, cả lán lặng đi. Mỗi người theo đuổi một dòng suy nghĩ riêng. Có đồng đội kéo chăn trùm kín đầu để giấu những giọt nước mắt nhớ nhà. Có người lặng lẽ cầm chén rượu pha mật ong rừng rồi quay mặt đi vì nhớ người vợ trẻ và đứa con gái còn chưa kịp biết mặt cha. Chúng tôi hiểu rằng phía sau mỗi người lính nơi chiến trường đều là một gia đình đang ngóng đợi trong nỗi thấp thỏm.
Tôi lay người bạn dậy cùng nâng chén rượu đầu xuân. Anh khẽ chạm ly với tôi rồi lặng lẽ quay đi lau nước mắt. Chúng tôi không nói nhiều. Chỉ biết rằng sau giao thừa này, có thể sẽ được trở về, cũng có thể mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Sáng mùng Một, một đàn ong rừng bay đến làm tổ trên cây cao su cạnh lán. Tôi đứng rất lâu ngắm đàn ong cần mẫn xây tổ. Chợt nhớ lời một nhà khoa học từng viết rằng loài ong là bậc thầy về tổ chức, về tinh thần kỷ luật và sự hy sinh để bảo vệ tổ ấm. Hình ảnh ấy khiến tôi nghĩ nhiều về trách nhiệm của người lính. Mùa xuân năm ấy, trái tim tuổi hai mươi của tôi không chỉ rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, tình người và những cảm xúc đầu đời, mà còn được tiếp thêm niềm tin để sẵn sàng trở lại đơn vị, bước vào trận đánh cuối cùng vì ngày đất nước thống nhất.
Bình luận bài viết