Hà Nội
Thứ 4, 25/03/2026
Nhiều mây
24°C

Giải pháp cải thiện nền kinh tế giảm phụ thuộc vào tín dụng

3:12
Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào chu kỳ tăng trưởng mới, việc hóa giải tình trạng “thâm dụng tín dụng” không còn là lựa chọn, mà là mệnh lệnh sống còn để bảo vệ an toàn hệ thống ngân hàng.

Tín dụng tăng nhanh, nhưng giá trị tạo ra không theo kịp

Nhìn vào bức tranh tài chính giai đoạn 2021 - 2025, một thực trạng đáng báo động là sự chênh lệch kỳ hạn ngày càng gay gắt. Điểm đáng lo không nằm ở con số tuyệt đối, mà ở chất lượng của tăng trưởng tín dụng. Trong giai đoạn 2022 - 2025, tín dụng trung - dài hạn biến động mạnh: Từ 17,9% (2022) giảm xuống 3,4% (2023). Sau đó bật lên 17% (2024) và 31,8% (2025). Sự dao động này phản ánh một thực tế dòng vốn đang chạy theo chu kỳ tài sản và kỳ vọng ngắn hạn, thay vì bám sát nhu cầu sản xuất - kinh doanh thực.

Giải pháp cải thiện nền kinh tế giảm phụ thuộc vào tín dụng

Kiểm đếm tiền chính xác. Ảnh Trọng Triết

Theo chuyên gia tài chính nhận định: Khi tín dụng tăng nhanh hơn GDP trong thời gian dài, nền kinh tế sẽ rơi vào trạng thái “tăng trưởng dựa trên nợ”. Lúc đó, mỗi đồng tăng trưởng mới phải “mua” bằng nhiều đồng tín dụng hơn và chi phí hệ thống sẽ tăng theo cấp số nhân”. Điều này cũng lý giải vì sao ICOR có xu hướng tăng, hiệu quả sử dụng vốn giảm và áp lực lãi suất và nợ xấu tiềm ẩn gia tăng.

Thực tế số liệu mới nhất cho thấy, tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng từ 123% (2021) lên 146% (2025) và có thể tiến sát 184% vào năm 2030. Đây không còn là cảnh báo mang tính lý thuyết, mà là dấu hiệu rõ ràng của một nền kinh tế phụ thuộc quá mức vào “đòn bẩy” tài chính ngân hàng.

Một nghịch lý đang tồn tại trong hệ thống tài chính là rủi ro cấu trúc, sự lệch pha kỳ hạn và “dồn gánh nặng” lên ngân hàng. Đó là nguồn vốn chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn nhưng lại sử dụng vốn cho vay trung - dài hạn ngày càng lớn. Khoảng lệch này không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là rủi ro hệ thống.

Theo ThS. Nguyễn Văn Hoàng, Phó Giám đốc Ngân hàng Agribank Chi nhánh An Giang chia sẻ: “Chúng ta đang dùng nguồn vốn ngắn để tài trợ cho những nhu cầu dài. Khi thị trường biến động, hệ thống ngân hàng sẽ là nơi “hấp thụ cú sốc” đầu tiên”. Trong khi đó, các kênh dẫn vốn thay thế lại chưa phát triển tương xứng trái phiếu doanh nghiệp suy giảm mạnh (từ 18,5% GDP xuống 10,8%). Thị trường chứng khoán phục hồi nhưng chưa bền vững, nhà đầu tư dài hạn còn thiếu. Kết quả là mọi áp lực tài trợ vốn trung - dài hạn dồn lên hệ thống ngân hàng.

Thực tế so sánh các kênh dẫn vốn trung - dài hạn cho thấy tín dụng ngân hàng vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo. Vốn thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, FDI… chưa đủ sức thay thế. Trong khi đó quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu/GDP mới phục hồi lên khoảng 73% năm 2025 (từ mức đáy 54% năm 2022). Dư nợ trái phiếu doanh  nghiệp/GDP giảm từ 18,5% (2021) xuống còn khoảng 10,8% (2025). Sự suy yếu của thị trường vốn khiến gánh nặng dồn trở lại hệ thống ngân hàng, làm “méo mó” cấu trúc tài chính quốc gia. Hệ quả tăng trưởng kém bền vững và tích tụ rủi ro.

Giải pháp cải thiện nền kinh tế giảm phụ thuộc vào tín dụng

 GS,TS Lê Văn Cảnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh. Ảnh Trọng Triết

Thúc đẩy tái cấu trúc dòng vốn

Để giảm sự phụ thuộc vào tín dụng, GS,TS Lê Văn Cảnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ TP Hồ Chí Minh “hiến kế”, vấn đề không phải là “siết tín dụng”, mà là tái phân bổ lại vai trò giữa các kênh dẫn vốn, cụ thể như sau:

Một là, phát triển thị trường vốn – trụ cột thay thế tín dụng ngân hàng. Cần chuyển dịch từ mô hình “bank-based” sang “market-based” theo lộ trình khôi phục niềm tin thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chuẩn hóa minh bạch thông tin, xếp hạng tín nhiệm, phát triển nhà đầu tư dài hạn (quỹ hưu trí, bảo hiểm) và mục tiêu không chỉ là tăng quy mô, mà là tạo kênh huy động vốn trung - dài hạn thực chất cho doanh nghiệp.

Hai là, kiểm soát cấu trúc tín dụng thay vì chỉ kiểm soát quy mô. Chính sách tín dụng cần chuyển từ “room tổng” sang “định hướng chất lượng” hạn chế tín dụng vào lĩnh vực rủi ro cao (đầu cơ tài sản). Ưu tiên sản xuất, công nghệ, xuất khẩu, gắn tín dụng với tiêu chí ESG và chuyển đổi xanh. Điều này giúp tín dụng trở thành “đòn bẩy” năng suất, thay vì chỉ là công cụ mở rộng quy mô.

Ba là, giảm lệch pha kỳ hạn – bài toán sống còn của hệ thống ngân hàng. Một số giải pháp trọng tâm là phát triển sản phẩm tiền gửi dài hạn, khuyến khích phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng. Siết dần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn. Đây là điều kiện cần để tránh rủi ro thanh khoản mang tính chu kỳ.

Bốn là, phối hợp chính sách tiền tệ – tài khóa – thị trường vốn. Một mình chính sách tiền tệ không thể xử lý bài toán “thâm dụng tín dụng”. Cần một “tam giác chính sách” tiền tệ điều tiết thanh khoản, định hướng tín dụng; tài khóa thúc đẩy đầu tư công hiệu quả, dẫn dắt vốn tư nhân và thị trường vốn “hấp thụ” nhu cầu vốn dài hạn. Sự phối hợp này giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Năm là, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Cuối cùng, cốt lõi vẫn là chất lượng tăng trưởng, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng suất lao động và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo. Khi nền kinh tế tạo ra giá trị cao hơn trên mỗi đồng vốn, nhu cầu “bơm tín dụng” tự nhiên sẽ giảm.

“Thâm dụng tín dụng” không phải là vấn đề mới, nhưng đang trở nên cấp bách trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới - nơi dư địa chính sách không còn nhiều như trước. Nếu không tái cấu trúc kịp thời, nền kinh tế có thể rơi vào “vòng xoáy” tăng trưởng – mở rộng tín dụng – tích tụ rủi ro – điều chỉnh – suy giảm.

Ngược lại, nếu chuyển đổi thành công sang mô hình cân bằng hơn giữa ngân hàng và thị trường vốn, Việt Nam có cơ hội duy trì tăng trưởng cao, giảm rủi ro hệ thống và nâng tầm chất lượng phát triển. Vấn đề không nằm ở việc “giảm tín dụng”, mà là đặt tín dụng đúng vị trí của nó trong một hệ sinh thái tài chính đa tầng, hiệu quả và bền vững hơn./.
 

Tin liên quan
Năm vừa qua, đánh dấu một cột mốc đặc biệt của ngành rau quả Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 8,5-8,6 tỷ USD, tăng gần 18% so với năm trước và xác lập kỷ lục mới.
Trước yêu cầu chuyển đổi số, cạnh tranh thị trường và chuẩn mực quản trị tài chính hiện đại, mô hình hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) đang đứng trước “sức ép” tái cấu trúc toàn diện nhằm bảo đảm an toàn hệ thống và nâng cao hiệu quả hoạt động trong giai đoạn phát triển mới.
Hiện chưa có số liệu thống kê về tăng trưởng tín dụng lĩnh vực bất động sản cho cả năm 2025, nhưng theo báo cáo nhà ở và thị trường bất động sản quý III/2025 của Bộ Xây dựng, dư nợ tín dụng bất động sản đã vượt mốc 4 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 8/2025.

Bình luận bài viết

avatar
Login
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!
Về đầu trang
Thông báo...