Tôi có một ngăn tủ lưu giữ kỷ vật cá nhân trong cuộc chiến tranh vệ quốc 1954 - 1975. Đó là một bao da súng ngắn K54, một máy ghi âm, một bộ máy ảnh, một bộ quân phục màu cỏ úa, một bộ tăng võng, một bi đông, một mũ tai bèo, một túi vải đựng hoa dầu.
Mỗi lần đem những kỷ vật ấy ra phơi nắng để bảo quản được lâu dài, bao ký ức thời trận mạc ùa về, bởi với thế hệ chúng tôi, cuộc chiến tranh giữ nước ấy như mới chấm dứt hôm qua, nhất là mỗi khi trở lại thăm dinh Độc Lập vào dịp hoa dầu bay bay và tiếng ve râm ran báo mùa mưa bắt đầu.
Đầu tiên xin kể về hai kỷ vật là những cánh hoa dầu (chính xác là trái của cây dầu rái) mà 50 năm qua đã không còn giữ được màu nâu đỏ nhưng hai cánh thì vẫn nguyên vẹn, và chiếc máy ghi âm hiệu JVC hình chữ nhật khoảng một kilôgam.
Chắc rằng những người lính Giải phóng và phóng viên chiến trường tiến vào dinh Độc Lập trưa ngày 30 tháng tư ấy còn giữ bao kỷ niệm, nhưng có một kỷ niệm có lẽ ít người nhớ đến vì nó quá bình thường, đó là cái mệt rã rời ập đến ngay sau khi lá cờ Giải phóng tung bay trên cột cờ của cơ quan đầu não đối phương. Mệt đến mức ngoài những đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ dinh, quản thúc nội các chính quyền Dương Văn Minh, còn lại đều nằm dài trên thảm cỏ, nằm dài dưới tán rừng trong khuôn viên dinh, nằm dài dưới tán rừng quảng trường Norodom trước dinh. Cứ tưởng nằm xuống là ngủ vùi ngay vì đã nhiều ngày, nhiều đêm vừa đi, vừa chạy, vừa nhai lương khô, vừa đánh địch để “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới chiến trường, giải phóng miền Nam”, nhưng chẳng ai nhắm mắt được bởi niềm vui cứ lâng lâng, bởi nỗi đau đồng đội vừa ngã xuống cứ khắc khoải.

Bỗng một cơn gió chuyển mùa từ hướng sông Sài Gòn ào qua khuôn viên dinh Độc Lập, ào qua quảng trường Norodom, và không phải mưa mà là chấp chới chấp chới những cánh hoa dầu quay tít, chao nghiêng nhuộm nâu đỏ một khoảng không rồi từ từ đậu xuống người chúng tôi, đậu xuống tháp pháo, đậu xuống bánh xích xe tăng lấm lem bùn đất, đúng như trong thơ của nhà thơ Vương Trọng:
Cắm cờ lên đích cuối cùng
Tăng về nép dưới bóng rừng nghỉ ngơi
Cửa tròn vừa mới hé thôi
Nhô đầu ra, ngập một trời tiếng ve.
Cảnh tượng ấy làm những người lính bâng khuâng nhớ Trường Sơn, nhớ rừng Tây Nguyên, nhớ rừng Đông Nam Bộ khi chớm mưa đầu mùa, hoa dầu cũng bay bay như thế này… Ôi, rừng đã theo chúng tôi về tận Sài Gòn!
Đã xa xôi gì, mới mươi ngày trước, đại ngàn cũng chấp chới chấp chới hoa dầu buông hai cánh đài nâu đỏ xuống những đoàn quân đang thần tốc tiến về Sài Gòn. Khi ấy, tâm trạng chúng tôi để hết vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, không ai đủ lãng mạn để chiêm ngưỡng một cảnh tượng độc đáo của thiên nhiên: Cứ đến những ngày trời vần vũ chuyển khô hạn sang mưa mát là hoa dầu xoay tít trong gió, chao lượn đến mấy chục mét rồi đậu xuống nền rừng...
Tôi ngồi bật dậy nhặt những cánh hoa dầu quanh mình cho vào mũ tai bèo với ý nghĩ thoáng qua là để thay hoa tưởng nhớ đồng đội hy sinh trên những nẻo đường chiến tranh.
Rồi bỗng ran ran tiếng ve làm rung chuyển cả vòm xanh bao quanh dinh Độc Lập, chạy dài theo đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), đường Huyền Trân Công chúa… Tôi không nhớ vì sao lúc ấy mình lại nhanh tay lấy máy ghi âm từ ba lô con cóc, lập tức ấn nút ghi lại cái âm thanh rất quen thuộc giữa rừng già mỗi khi hè về nhưng lại quá đổi lạ lẫm giữa phố thị khi tiếng súng vừa dứt. Mà đã dứt đâu, những tràng đại liên M60 bên kia đường Hồng Thập Tự bỗng chát chúa từng tràng dài, át cả tiếng ve.
Mấy tiếng đồng hồ sau, chúng tôi được biết những tràng đại liên ấy là của một tốp lính Cộng hòa bảo vệ biệt thự Hoa Lan của Tổng thống Dương Văn Minh ở hẻm số 3, đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), cách dinh Độc Lập nếu có đường thẳng chỉ vài trăm mét. Theo chỉ dẫn của biệt động nội thành, một tiểu đội của C10, D9, E64A, F320A được lệnh bắt tốp lính ấy quy hàng nhưng chúng đã ngoan cố chống trả. Chiến sĩ Đào Nguyên Hồng quê thôn Phẻo, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai vượt lên tiêu diệt ổ đại liên thì trúng đạn. Đó là người lính cuối cùng hy sinh tại Sài Gòn lúc 12 giờ ngày 30 tháng tư 1975.

Bữa cơm tối hòa bình đầu tiên chúng tôi nấu trong khuôn viên dinh Độc Lập. Cũng là bữa cơm dã chiến nhưng nấu bằng cành cây khô kiếm được trong những cụm rừng trước và trong dinh, có đại đội nấu bằng bếp điện chiến lợi phẩm. Vẫn là bữa cơm lính chiến nhưng có một ít thịt hộp, ruốc bông tiêu chuẩn, chỉ thiếu môn thục, lá bứa, lá tai voi - những loại rau rừng thân thuộc. Đói mà vẫn không ngon miệng, cứ nghèn nghẹn nhớ thương
“Người bạn tôi không về tới nơi này
Anh gục ngã bên kia cầu xa lộ
Anh nằm lại trước cửa vào thành phố
Giây phút lạnh lùng chấm dứt cuộc chiến tranh”
(thơ Nguyễn Duy).
Mấy ngày sau, khi có chỗ trú quân tạm thời, chúng tôi bày những cánh hoa dầu thay bình hoa vạn thọ thắp hương cho đồng đội không còn được hưởng cảnh chiến tranh đã chấm dứt. Thắp hương cho binh nhất Đào Nguyên Hồng. Thắp hương cho 52 cán bộ, chiến sĩ Z23, Z22 đặc công nước, D81 đặc công khô thuộc Lữ đoàn Đặc công 316 đánh chiếm và bảo vệ cầu Rạch Chiếc trên xa lộ Đại Hàn, cách cầu Sài Gòn 4 kilômét, cách dinh Độc Lập 7 kilômét, từ 3 giờ sáng 27 tháng tư đến 9 giờ 30 ngày 30 tháng tư để “thông đường” cho đại quân tiến vào Sài Gòn. Thắp hương cho đại úy Ngô Văn Nhỡ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn xe tăng 203, Binh đoàn Hương Giang, trong khi hai chiếc tăng của đồng đội bị địch bắn cháy lúc vượt cầu Sài Gòn, đã mở cửa xe chỉ huy hô lớn "Nhằm thẳng Sài Gòn, tiến lên!", rồi gục ngã khi chiếc xe tăng vừa qua cầu Thị Nghè bởi một tràng trung liên của tàn quân địch. Thắp hương cho một trung đội Quân Giải phóng hy sinh trong đêm 29 tháng tư khi tiêu diệt cứ điểm Ký Thủ Ôn trên liên tỉnh lộ 5, quận 8 - chốt chặn cuối cùng của đối phương ở hướng Nam Sài Gòn. Thắp hương cho 200 người lính của Quân đoàn 2 không còn được ăn bữa cơm tối hòa bình đầu tiên…
Để thêm chút hơi ấm cho đồng đội đã mất, tôi mở máy ghi âm phát tiếng ve trưa hè ngay tại đích đến của cuộc chiến tranh giữ nước suốt 21 năm ròng rã. Không biết dưới nền đất lạnh, đồng đội tôi có ngạc nhiên vì sao lẫn trong tiếng ve lại có tiếng từng tràng súng máy, đồng đội tôi có linh cảm rồi đây tiếng súng ấy còn nổ ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc?
Cho đến giờ, có người còn cắc cớ hỏi những phóng viên thuộc Thông tấn xã Giải phóng, Đài Phát thanh Giải phóng, Báo Giải phóng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, Báo Quân Giải phóng của Bộ Tư lệnh Miền - những phóng viên ở chiến trường lâu nhất - cảm giác thế nào những đêm đầu tiên ngủ ở Sài Gòn. Tất nhiên mỗi người trả lời một khác. Riêng tôi, khi được phân công trú tạm ở một tòa nhà trong khu cư xá Hỏa xa (đường Cao Thắng, quận 3) mà chủ đã di tản, không tìm được chỗ mắc võng, cũng không nỡ đóng móc sắt vào hai bức tường vuông góc vôi vữa phẳng lỳ, nên phải nằm trên chiếc giường nệm hình như còn phảng phất mùi con gái, suốt đêm cứ chông chênh chông chênh
“Mơ màng nửa thức nửa ngủ
Bâng khuâng nửa phố nửa rừng”
(thơ Anh Ngọc).
Thì ra 10 năm trận mạc, lúc cầm súng, khi cầm bút, tôi có được giấc ngủ ngon với chiếc võng bạt, võng dù, nên khi chập chờn trên chiếc giường lạ thì “Trong mơ chợt nghe tiếng suối/ Mở mắt quạt trần đang quay” (thơ Anh Ngọc).
Do vậy mà đêm đêm, thao thức nửa phố nửa rừng, tôi lại càng nhớ đại úy Ngô Văn Nhỡ và nghĩ về người vợ của anh
“Một mình một mâm cơm
Ngồi bên nào cũng lệch
Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”
(thơ Hữu Thỉnh).
Tôi lại càng nhớ binh nhất Đào Nguyên Hồng trước khi vào chiến trường đã hẹn với người yêu ngày hòa bình sẽ tổ chức đám cưới, vậy mà cô gái Đất Cảng chỉ được gặp lại anh qua giấy báo tử...
Đúng nửa tháng sau khi giang sơn thu về một cõi, ngày 15 tháng năm, Trung ương tổ chức mít tinh lớn mừng ngày đại thắng. Toàn bộ khuôn viên dinh Độc Lập, toàn bộ quảng trường Norodom tràn ngập người và hoa, tràn ngập những tà áo dài chen quân phục, tràn ngập những bộ vest màu sáng chen đồng phục màu cỏ úa. Khuôn mặt ai cũng rạng rỡ. Tôi thoáng nghĩ, cùng với triệu người vui ấy chắc cũng có chừng ấy người buồn vì mất mát người thân và của cải bởi chiến tranh. Khi chuẩn bị giải phóng Sài Gòn, chúng tôi nghe cấp trên nói đến hòa giải, hòa hợp dân tộc. Khi đón Bí thư Thứ nhất Lê Duẫn ở sân bay Tân Sơn Nhất, cánh phóng viên chúng tôi nghe ông nói, đại ý, giải phóng miền Nam là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai. Nhưng mới nửa tháng qua, chắc rằng không phải ai cũng cảm nhận hết ý nghĩa của chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc và câu nói ấy của người đứng đầu Đảng Lao động Việt Nam.

Đêm đó, khi sự rộn ràng của ngày mừng đại thắng tạm lắng, những phóng viên chiến tranh theo chân các cánh quân tiến vào Sài Gòn tụ tập quanh Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trên sân cỏ dinh Độc Lập. Sau khi thân mật hỏi thăm từng phóng viên, Đại tướng khái quát về đòn đánh điểm huyệt của quân ta ở Buôn Ma Thuột, buộc đối phương phải tháo chạy khỏi địa bàn quân sự quan trong nhất là Tây Nguyên, dẫn đến thời cơ chiến lược mở chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, rồi hỏi chúng tôi có ý kiến gì về chiến lợi phẩm mà ta thu được. Sau khi chăm chú nghe chúng tôi, Đại tướng nói: Chiến lợi phẩm lớn nhất mà ta thu được của đối phương là hệ thống giao thông hoàn chỉnh từ sân bay, bến cảng đến đường bộ; là Nha Địa dư Quốc gia (nay là Xí nghiệp Bản đồ Đà Lạt) chuyên vẽ và in bản đồ, chủ yếu là bản đồ quân sự; là tác phong công nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, trong công việc hành chính được xây dựng từ thời kỳ thực dân Pháp còn đô hộ Việt Nam.
Hệ thống giao thông, cơ sở vẽ và in bản đồ quân sự thì dễ hiểu, còn tác phong công nghiệp mà theo Đại tướng là một trong những chiến lợi phẩm quan trọng nhất thì chúng tôi mù mờ. Nhưng chẳng bao lâu sau thì chúng tôi đã hiểu phần nào về tác phong công nghiệp.
Làm bảo vệ cho tòa soạn báo Giải Phóng - Cơ quan của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vừa chuyển từ chiến khu Bắc Tây Ninh về, đang có nhiệm vụ xuất bản ngay báo Sài Gòn Giải phóng là bác Sáu Già - một cơ sở cách mạng ở quận 4. Hằng ngày, đúng 6 giờ sáng, không hơn không kém, bác Sáu có mặt ở 174 đường Hiền Vương (đường Võ Thị Sáu bây giờ) - trụ sở của báo - cho đến khi tòa soạn xong việc, thường là quá 12 giờ đêm. Trong túi áo khoác của bác Sáu luôn có chùm chìa khóa, mỗi chiếc đều được đánh số, bác lại còn một chùm chìa khóa dự phòng nữa. Chưa khi nào chúng tôi thấy bác Sáu mở cửa nhầm chìa. Bác Sáu đón và tiễn khách là cán bộ cấp cao đi xe hơi hay anh đạp xích lô chở báo phát hành đều lịch sự, chu đáo như nhau.
Khi thấy cách làm việc của bác Sáu Già từng là công nhân một nhà máy tại Khu công nghiệp Biên Hòa do những chủ tư bản lớn ở miền Nam xây dựng, chúng tôi dần hiểu tác phong công nghiệp đơn giản là đúng giờ, chỉn chu, hiệu quả; chậm chạp, lề mề, ẩu tả là bị guồng máy làm việc đã chuẩn hóa gạt ra rìa. Từ khi nền kinh tế đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới, chúng tôi càng thán phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi Đại tướng đưa tác phong công nghiệp vào chiến lợi phẩm. Quả đúng là nếu không có tác phong công nghiệp ở anh công chức, ở chị công nhân thì không xây dựng được đất nước phồn vinh.

Từ sau những ngày chuyển mùa tại dinh Độc Lập năm 1975 đã găm vào ký ức ấy, vào dịp cuối tháng tư, đầu tháng năm hằng năm, tôi thường tha thẩn hè phố đường Nguyễn Thị Minh Khai, Huyền Trân Công chúa, Lê Quý Đôn, Phạm Ngọc Thạch chờ những cơn gió ào qua để ngắm hoa dầu bay bay, để nghe lòng rộn rã cùng tiếng ve mà tận hưởng cảnh Sài Gòn thanh bình và rộn ràng dựng xây với bao kỷ niệm ùa về…
Ngày đầu tiên tôi biết Sài Gòn là ngồi sau xe máy của nữ ký giả Huỳnh Cẩm Nhung - nguyên phóng viên nổi tiếng của báo Tin sáng - chạy từ tòa nhà 174 đường Hiền Vương ra bến Bạch Đằng, theo rạch Bến Nghé rồi kênh Tàu Hũ vào Chợ Lớn. Chỉ mới vài ba chục tiếng đồng hồ Nam Bộ dứt hẳn tiếng súng, Sài Gòn đã trở lại sinh hoạt bình thường. Tôi không bị choáng ngợp bởi Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định có những con đường dài tít tắp với san sát cửa hàng, cửa hiệu, không choáng ngợp bởi chợ Bến Thành bán lẻ, chợ Bình Tây bán sỉ đèn điện sáng choang, người bán hàng luôn lễ phép dù người mua có mua hay không, có trả giá quá thấp hay không, mà choáng ngợp bởi tình người dành cho nhau, nhất là dành cho chúng tôi - những người lính mà với không ít người, vừa đánh bại họ.
Nữ ký giả chở tôi “đi cho biết Sài Gòn” là một trong nhiều nhà báo của những tờ báo đối lập chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tìm đến nhật báo Sài Gòn Giải phóng vừa xuất bản để sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp bài vở, cả phương tiện làm việc và giấy mực in báo. Hai giờ ngày 5 tháng 5, báo Sài Gòn Giải phóng số đầu tiên in xong gần nửa triệu bản, khổ lớn, 8 trang, hai màu để xe tải, xe máy, cả xe từ miền Đông, miền Tây Nam Bộ xếp hàng dài trước Tân Minh Ấn quán, đường Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay) nhận báo cho kịp phát hành trong buổi sáng, như nếp cũ của các đại lý phát hành báo chí trước ngày 30 tháng 4 ở miền Nam. Không có bạn đồng nghiệp, không có những sinh viên, học sinh trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi quân Mỹ “go home”, đòi hòa bình ở Sài Gòn giúp sức thì tờ báo cách mạng khó xuất bản kịp thời, nóng hổi tính thời sự với số lượng lớn như vậy.
Trong 5 ngày đêm chuẩn bị ra số báo Sài Gòn Giải phóng đầu tiên và những số báo tiếp theo tại tòa nhà 174 Hiền Vương mà mấy ngày trước là trụ sở báo Dân chủ của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, mỗi đêm chúng tôi ngủ nhiều nhất vài tiếng đồng hồ, đến bữa ăn, chị nuôi đem cơm nấu bằng chảo gang quân dụng mang từ rừng ra đến tận bàn làm việc cho lãnh đạo, biên tập viên, phóng viên. Thấy chúng tôi ăn uống kham khổ như ở rừng, đêm nào anh chị em cộng tác với báo cũng mua bánh mì thịt, mua xá xị Chương Dương, bia Con Cọp về cùng chung vui. Có đêm anh chị em còn mang khi thì Remy Martin, Hennessy Cognac XO, khi thì Chivas Regal, Red Label - những loại rượu tây nức tiếng đến “cụng ly”. Với tôi, cả đời viết báo, làm báo, chưa lúc nào vui và ấm áp tình đồng nghiệp như những ngày đầu tiên xuất bản báo giữa Sài Gòn vừa được giải phóng.
Tôi được tòa soạn phân cho một chiếc Honda 67. Có hôm đi làm phóng sự, đạp mãi xe không nổ máy, tôi hì hụi dẫn bộ thì có người kêu tấp vô lề đường, đem đồ nghề ra sửa giúp. Tôi xin trả tiền công, người sửa xe trạc tuổi trung niên không những không lấy mà còn cho tôi một cái bugi NGK còn trong hộp của Nhật Bản để dự phòng. Có hôm vào Chợ Lớn, xe hết xăng, đang hỏi có nơi nào bán xăng, chị chủ tiệm chạp phô đổ cho tôi nửa bình, nói là cây xăng còn xa lắm, cậu Giải phóng dùng đỡ xăng chị trữ được và nhất khoát không nhận tiền.
Đến bây giờ tôi vẫn thấy quá ấm áp bởi cái tình của bà con cô bác Sài Gòn đối với lính Giải phóng trong những ngày phần đông người Việt reo vui vì đất nước thống nhất.
Trong cuộc chiến tranh vệ quốc lần hai, rất nhiều gia đình Việt Nam “người bên này”, “kẻ bên kia”. Gia đình tôi cũng không là ngoại lệ. Tôi và chị Hai là “Việt Cộng” chính cống, chị Ba tôi lại lấy chồng là trung tá quân lực Cộng hòa. Chị Ba biết tôi là ký giả Việt Cộng nên khi Sài Gòn về tay Giải phóng, đã tìm đến các cơ quan tuyên truyền của “kẻ bên kia” tìm em, cũng là hú họa, vậy mà chị em lại được gặp nhau sau 20 năm ở hai trận tuyến. Chị Ba lái chiếc Toyota màu bạc chở tôi đến nhà dì - em mẹ chúng tôi ở khu cư xá sĩ quan Bắc Hải, quận 10. Thấy tôi, dì nhận ra ngay, có lẽ tôi có nét giống dì. Dì bảo tôi đến nhà dì ở, nếu không, Việt Cộng đến lấy mất. Dì nói hai từ Việt Cộng nghe nặng nề mà quên mất trước mặt, thằng cháu đang mặc đồ lính Giải phóng, bên hông vàng sậm bao súng ngắn. Dì tôi có chồng là đại đội trưởng bộ đội Cụ Hồ, hy sinh trước giờ Hiệp định Đình chiến được ký kết ở Genève, ngày 20/7/1954. Khi chính quyền Ngô Đình Diệm khủng bố những người kháng chiến chống Pháp, dì tôi dắt hai đứa con từ Quảng Trị đi dần vào Nam. Con trai lớn học xong tú tài 2 phải vào lính, trở thành sĩ quan sau khi tốt nghiệp Trường Võ bị quốc gia Đà Lạt, leo dần lên cấp trung tá. Biệt thự dì tôi và con gái đang ở có bằng khoán tên con trai dì, đã cùng vợ con bay ra tàu chiến Mỹ khi mạ và em gái nhất quyết không di tản. Tôi nói với dì, con một mình, chỗ ở đã có cấp trên lo, dì yên tâm. Đúng như dì tôi nói, tháng sau, quân quản đến đuổi mẹ con dì để lấy nhà cho một cán bộ cấp cao ở. Cũng may là tôi còn có “cái thế nhà báo cách mạng” nên “xin đổi” cho dì căn hộ vài chục mét vuông trong một con hẽm ở quận Bình Thạnh. Mấy năm sau, nhờ có bằng Tổ quốc ghi công, căn nhà vô chủ ấy đã được “hợp thức hóa” cho mẹ con dì. cao

Sau này, có người bảo tôi dại, lúc ấy đến ở nhà dì thì đã có cái biệt thự mấy ngàn lượng vàng. Chúng tôi không dại. Hầu hết những người từ chiến khu về Sài Gòn không nghĩ đến có nhà có xe riêng khi mà nhà ấy, xe ấy không phải do mình lao động mà có.
Có lẽ tôi là một trong những người cầm bút trong chiến tranh, khi hòa bình có được may mắn hơn bao người khác. Tôi có người yêu là bác sĩ công tác ở Bệnh viện Liên Cơ của Trung ương Cục Miền Nam, tiếp quản Bệnh viện Chợ Rẫy. Chia tay mỗi đứa mỗi nơi để theo các cánh quân về giải phóng Sài Gòn, chúng tôi lại được gặp nhau nửa tháng sau khi chiếm dinh Độc Lập. Hạnh phúc ngập tràn khi chúng tôi bên nhau đi giữa phố phường Sài Gòn, được các chị, các bà ở chợ, ở quán hủ tíu khen: Cái cô Giải phóng này trông ngộ thiệt, lại đẹp nữa! Mà ngộ thật, bởi giữa phố phường mà em tôi
“Vẫn nguyên vành mũ lá sen
Vẫn đôi dép đúc vốn quen đường rừng
Vẫn quân phục cũ nửa chừng
Dáng em không lẫn giữa rừng người chen”
(thơ Vương Trọng).
Bình luận bài viết